Hơn 30.000 người lao động có nhu cầu nhà ở xã hội, 128.000 căn dự kiến phát triển trên địa bàn TP HCM
Khảo sát của Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) TP HCM ghi nhận hơn 30.000 trường hợp có nhu cầu thuê mua, mua nhà ở xã hội trên địa bàn. Trong khi đó, 9 doanh nghiệp (DN) dự kiến phát triển khoảng 128.000 căn đến năm 2030.
Thông tin với báo giới chiều 1/10, ông Trần Thanh Thảo - Phó Chánh Văn phòng LĐLĐ TP HCM cho biết, theo khảo sát bước đầu, nhu cầu nhà ở của đoàn viên, công nhân, người lao động (ĐV, CN, NLĐ) trên địa bàn rất lớn, với khoảng 3.181 trường hợp có nhu cầu thuê nhà và 30.339 trường hợp có nhu cầu thuê mua, mua NƠXH.
Phần lớn NLĐ đang thuê trọ tại các khu dân cư tự phát, với điều kiện về diện tích, an toàn, phòng cháy chữa cháy và hạ tầng xã hội còn hạn chế.
Theo ông Thảo, rào cản lớn nhất đối với NLĐ không chỉ là giá nhà mà còn nằm ở khả năng cân đối dòng tiền hàng tháng. Với thu nhập còn hạn chế, NLĐ phải đồng thời chi trả tiền thuê hoặc tiền trả góp nhà, chi phí sinh hoạt, nuôi con, đi lại, học hành và các khoản phát sinh khác. Do đó, ngay cả khi có chính sách tín dụng ưu đãi, việc tiếp cận nhà ở vẫn có thể gặp khó nếu thời hạn vay chưa đủ dài, nguồn cung nhà cho thuê phù hợp chưa đủ lớn và giá nhà chưa tương xứng với khả năng chi trả.
Hiện nay, lãi suất cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội đối với chương trình NƠXH đang ở mức 5,4%/năm. Tuy nhiên, theo LĐLĐ TP HCM, đối với NLĐ, vấn đề quan trọng là phải có sản phẩm nhà ở phù hợp ngay từ đầu, đặc biệt là nhà ở cho thuê và thuê mua với diện tích, vị trí và mức giá phù hợp với thu nhập.
Từ thực tế này, LĐLĐ TP HCM cho rằng bài toán nhà ở cần được tiếp cận theo hướng “nhà phù hợp với khả năng chi trả”, thay vì chỉ tập trung vào tăng số lượng căn hộ. Công đoàn sẽ tiếp tục khảo sát, cập nhật nhu cầu và kết nối NLĐ với các dự án phù hợp; đồng thời kiến nghị cơ chế tín dụng dài hạn, lãi suất phù hợp và các chính sách hỗ trợ nhằm giảm áp lực chi phí.
Về nguồn cung, đến nay LĐLĐ TP HCM đã ký biên bản thỏa thuận hợp tác với 9 DN, với tổng số khoảng 128.000 căn nhà ở dự kiến phát triển đến năm 2030. Tuy nhiên, đây là cam kết và danh mục dự kiến, không đồng nghĩa với số căn đã khởi công hoặc hoàn thành.
Thực tế, tiến độ các dự án hiện không đồng đều. Một số dự án đã cơ bản hoàn thiện hồ sơ và dự kiến khởi công. Trong đó, dự án Hoa Sen An Hạ dự kiến khởi công trong quý IV/2026 với 1.853 căn hộ tại xã Tân Vĩnh Lộc. Một số dự án khác đang hoàn thiện thủ tục, dự kiến khởi công trong năm 2027; trong khi một số DN tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm quỹ đất phù hợp.

Ông Trần Thanh Thảo, Phó Chánh Văn phòng, LĐLĐ TP HCM. Ảnh: Thu Uyên
Ông Thảo cho biết thêm, đơn vị đang chuyển từ phương thức “kết nối, ký kết” sang “kết nối - theo dõi - tháo gỡ - giám sát tiến độ”, nhằm đưa các thỏa thuận hợp tác thành những dự án cụ thể.
Theo đó, Công đoàn triển khai mô hình liên kết “3 bên” giữa tổ chức Công đoàn - DN đầu tư nhà ở - người sử dụng LĐ và NLĐ. Công đoàn giữ vai trò kết nối, điều phối; DN đầu tư chịu trách nhiệm triển khai dự án theo quy định; DN sử dụng LĐ phối hợp xác nhận nhu cầu của CN và nghiên cứu hỗ trợ NLĐ tiếp cận nhà ở.
“Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi không phải là có nhiều bản ghi nhớ, mà là có dự án thật, căn nhà thật và NLĐ thực sự có thể thuê, thuê mua với mức chi phí phù hợp” - ông Thảo cho biết.
Một trong những điểm nghẽn được đơn vị này chỉ ra là quỹ đất sạch dành cho nhà ở cho thuê còn hạn chế. Một số dự án còn gặp khó khăn trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, giao đất và chuyển mục đích sử dụng đất. LĐLĐ TP HCM kiến nghị Thành phố tiếp tục thực hiện hiệu quả cơ chế “luồng xanh”, ưu tiên tháo gỡ thủ tục đối với các dự án NƠXH; đồng thời rà soát quỹ đất công, quỹ nhà tái định cư chưa sử dụng và các quỹ đất phù hợp để bổ sung nguồn cung nhà ở cho CN.
Đáng chú ý, đơn vị đã đề xuất chuyển đổi 953 căn hộ tái định cư chưa sử dụng tại Khu dân cư Vĩnh Lộc B sang nhà ở cho thuê phục vụ CN, NLĐ. Đây là giải pháp vừa bổ sung nguồn cung, vừa khai thác hiệu quả tài sản hiện có.
Đối với các dự án mới, LĐLĐ TP HCM đề nghị nghiên cứu cơ chế phối hợp liên thông giữa các sở, ngành, địa phương ngay từ khâu xác định quỹ đất, quy hoạch, thủ tục đầu tư và xây dựng; đồng thời công khai tiến độ xử lý để DN có cơ sở chủ động triển khai.
Bên cạnh chỗ ở, ông Thảo cho rằng các dự án nhà ở CN cần gắn với nơi làm việc, thiết chế Công đoàn và hạ tầng xã hội như trường học, nhà trẻ, cơ sở y tế, văn hóa, thể thao, thương mại và giao thông công cộng. Vị trí nhà ở cũng cần được tính toán gắn với nơi làm việc và hệ thống giao thông. Nếu NLĐ có nhà nhưng phải di chuyển quá xa nơi làm việc, chi phí đi lại và thời gian di chuyển sẽ tiếp tục trở thành gánh nặng.
Theo đó, mô hình được hướng tới là “nơi ở - nơi làm việc - dịch vụ thiết yếu - giao thông” có sự kết nối đồng bộ. Đây không chỉ là vấn đề an sinh mà còn góp phần giúp DN ổn định nguồn nhân lực, hạn chế biến động LĐ và xây dựng quan hệ LĐ hài hòa, ổn định.
Để NLĐ thuận lợi tiếp cận nguồn cung, đơn vị cho biết sẽ tiếp tục phát huy hệ thống công đoàn cơ sở để rà soát, cập nhật và xác nhận nhu cầu nhà ở của ĐV, NLĐ, nhất là tại các DN sử dụng đông LĐ. Công đoàn cũng phối hợp với cơ quan chức năng và chủ đầu tư để công khai thông tin dự án, số lượng căn hộ, hình thức thuê hoặc thuê mua, tiến độ, điều kiện và phương thức tiếp nhận hồ sơ, giúp NLĐ tiếp cận thông tin chính thống.
Bên cạnh đó, đơn vị này sẽ đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu và nền tảng số của tổ chức Công đoàn, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu nhu cầu nhà ở của ĐV, NLĐ. Khi có dự án phù hợp, Công đoàn có thể kết nối nhanh hơn giữa người có nhu cầu, DN sử dụng LĐ và chủ đầu tư.
“Điều quan trọng là phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng điều kiện và không phát sinh cơ chế “xin - cho”. Công đoàn có thể hỗ trợ NLĐ về thông tin, hướng dẫn và kết nối, còn việc xét duyệt, xác định đối tượng và ký hợp đồng phải thực hiện theo đúng quy định pháp luật và thẩm quyền của chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước” - ông Thảo nhấn mạnh.

