Hợp đồng 'già - trẻ'
Rốt cuộc, tôi cũng phải tìm đến một hãng phim. Người của hãng phim luôn nở một nụ cười 'toàn cầu'. Ở nụ cười ấy, yếu tố giải trí bao trùm lên tất cả. 'Thơ viết để phổ nhạc. Văn viết để làm phim. Thế giới giải trí đã và đang giữ vai trò thống trị. Phải thế không ạ?'- Cuộc đàm luận đi từ xa đến gần, từ ngoài vào trong.
Người của hãng phim không hỏi thế, nhưng đặt ra vấn đề như vậy. Tôi không nói đúng, cũng chẳng nói sai. Tôi đang cần tiền, nên chỉ có thể khẳng định: Tôi sẽ viết theo yêu cầu của hãng! Yêu cầu của hãng rất đơn giản. Đơn giản đến mức không thể đơn giản hơn. “Chuyện lạ, càng lạ càng tốt. Có bi, có hài. Nhiều hài càng tốt. Éo le, gay cấn, nhiều bất ngờ, lắm lãng mạn”.

Hãng phim chỉ đặt hàng, tạm ứng khi thông qua “đề cương tóm tắt”. Tôi phải động não, huy động “tổng lực” tìm ra ý tưởng cho kịch bản phim truyện 30 tập. Tôi phải “chịu khó” xem các phim nhiều tập phát sóng trên ti vi. “Công thức tình, tiền, tù, tội” đã bão hòa, cốt truyện na ná giống nhau. Phim ta, phim nước ngoài đều vậy. Người ta xem diễn viên diễn xuất nhiều hơn so với việc theo dõi tình tiết câu chuyện. Sau một tuần “tranh cãi với chính mình”, tôi quyết định chọn cốt truyện “chồng già vợ trẻ” ở bên cạnh “vợ già, chồng trẻ”. Có 4 nhân vật chính:
1. Ông A 60 tuổi, giảng dạy đại học môn quan hệ cộng đồng ở một trường đại học dân lập. Một người cũ kỹ về hình thức, mệt mỏi u ám về tinh thần, lắm suy tư, nhiều triết lý; coi đời là bể khổ, chịu đựng tốt, sống tốt.
2. Bà B, vợ ông A ở tuổi 53, chủ một khách sạn, luôn tươi mới về hình thức, sôi nổi về tinh thần, thích nhậu nhẹt và du lịch. Coi đời là cuộc vui, vui nhiều, sống tốt.
3. Cô H 27 tuổi, đang làm nhân viên marketing của một doanh nghiệp bất động sản. Nhiều tham vọng, lắm đam mê, thích tìm tòi khám phá; coi cuộc đời là một chuỗi phiêu lưu có được có mất, được nhiều là sống tốt.
4. Anh K 37 tuổi, nhân vật lái xe kiêm bảo vệ và trợ lý mọi việc cho bà B, đẹp trai, sống an phận; coi cuộc đời là một sự thỏa hiệp để có được sự nhàn nhã về mọi mặt, có được người chủ tốt là sống tốt.
Tóm tắt cốt truyện, ông A, bà B sống với nhau thuộc dạng vợ chồng “tâm chưa đồng, ý chưa hợp” chịu đựng nhau để giữ gìn yên ổn gia đình. Hai đứa con gái của họ đi du học ở nước ngoài và có ý định làm việc lấy chồng, định cư ở nước ngoài, không về phụng dưỡng cha mẹ nữa. Căn nhà lớn hai tầng lầu, 4 phòng ngủ quá ư thừa thãi đối với đôi vợ chồng. 30 năm trước, ông chủ động đến với bà. Ông vốn là người của chiều sâu, của ý tưởng. Một người thông tuệ mọi nhẽ, trừ vấn đề trai, gái. Người ta mai mối cho ông một cô kế toán phụ, trình độ trung cấp, sức lực dồi dào, hoạt bát, nhanh nhạy. Ông có học vấn, học hàm nên cần phải có vợ để “bổ sung cái cần bổ sung”. Gặp mặt lần đầu, chừng 15 phút, nói ít nhìn nhiều. Lần sau, xác định ngày cưới.
Theo lẽ thường tình trên thế gian, việc chia tay trong cuộc hôn nhân “nhợt nhạt màu sắc” thuộc về phía người vợ. Bà chủ động nói: - Đã đến lúc ta ly thân rồi, mạnh ai lấy sống.
Ông nhìn xa: - Ly thân hay ly dị?
Bà hững hờ: - Ly dị phải ra tòa, phiền toái lắm, ly thân là được rồi!
Ông tư lự nhìn gần: - Bà muốn sao làm vậy.
Bản thỏa thuận tay đôi do bà soạn thảo. Phần kinh tế là chính. Ngôi nhà đang ở được chia đôi. Ông một nửa bếp, một nửa phòng khách. Còn lại của bà. Tiền điện nước chia đôi. Tiền lợi nhuận của khách sạn chia 6. Hai đứa con mỗi đứa một phần. Bà 3 phần. Ông một phần. Ông thản nhiên đồng ý.
Bà đi trước ông. Chọn chàng trai tên K làm bồ. K thuộc loại trai đẹp, chăm lo thể hình nhiều hơn chăm sóc trí tuệ. Tập tạ, chạy bộ, đánh cầu lông, uống sữa nhiều hơn đọc sách, xem báo, uống cà phê. Bà chấm anh ta từ lâu. Dường như anh ta biết điều đó và tiếp nhận điều đó một cách thản nhiên.
- Tôi với ông ấy chia tay rồi?
- Cũng phải
- Anh sống chung với tôi chứ?
Một hợp đồng gia đình mới được thiết lập. Bà B là chủ. Bà nêu ra ba nguyên tắc sống chung như vợ chồng. Thứ nhất, anh K vừa là chồng vừa là người làm công ăn lương. Tiền lương và các khoản phụ cấp của người lao động, anh K được giữ nguyên, là tài sản cá nhân, tùy ý sử dụng. Thứ hai, trách nhiệm của người chồng phải phục vụ vợ chu đáo, không được lăng nhăng bồ bịch với các cô gái khác. Thứ ba, trong quan hệ vợ chồng cũng giống như quan hệ chủ lao động và người lao động. Người lao động nếu thấy “bất công” sẽ được phép nghỉ việc. Ngược lại, người chủ cũng được phép sa thải nếu người lao động có lỗi nặng.
Anh K hài lòng ký vào mọi thứ giấy tờ do bà B đưa. Thời hạn 3 năm sống chung là thời hạn phù hợp. Cuộc sống mới của bà B với K được mở đầu bằng việc mua đồ mới ở cửa hàng thời trang. Bà B thử váy. Ba cái liền, cái nào K cũng khen đẹp. Bà B tỏ ý khó chịu, nói: “Có lẽ tôi phải tích cực giảm cân”. Tiếp theo là một chuỗi những tình tiết “sống chung” như vợ chồng của “vợ già chồng trẻ”.
Ông A tìm đến “người mới, cuộc sống mới” chậm hơn bà B sáu tháng. Vì chướng mắt trước cảnh vợ cũ âu yếm thằng nhãi chỉ bằng tuổi con mình. “Thiếu văn hóa!” - ông A nói trỏng. Bà B cười hi hí, nói: “Nhìn trộm người ta yêu nhau mới thiếu văn hóa”.
Ông A đi lang thang quanh trường, không phải để tiêu hóa thức ăn. “Để tiêu hóa buồn phiền!”, ông nói với cô H như vậy, khi hai người tình cờ gặp nhau. Cô H thấy lạ, thấy hay hay. Xô đẩy thế nào hai người lại rủ nhau vào quán cà phê, chọn chỗ đèn mờ mờ ngồi trò chuyện. “Buồn phiền có hại cho sức khỏe”, cô H bày tỏ sự quan tâm. Ông A nhìn về phía cửa ra vào, trầm tư nói nhỏ: “Buồn phiền là trí tuệ”.
Cô H mềm mại, uyển chuyển. Trong bụng chỉ chứa năng lượng, không chứa ưu phiền. “Em mới bị bồ đá. Chỉ thấy đau, không thấy buồn phiền, là cớ làm sao?”, cô H thổ lộ rồi kéo sát ghế, ngồi dựa vai ông chăm chú lắng nghe những triết lý “vừa quen vừa lạ”. “Đời là bể khổ ư? Trò chơi chữ vớ vẩn. Đã là bể khổ, hà cớ gì người ta phải ham sống sợ chết. Nhưng nghĩ kỹ lại, thấy có lý. Cái khổ trên đời lúc nào cũng nhiều hơn cái sướng. Không mất làm sao có được. Không chịu đựng làm sao có thành công”. Cô H phấn chấn hỏi thẳng: “Thu nhập của anh bao nhiêu”. “Khoảng hơn 30 triệu”. “Ô kê!”. Cô H chủ động kéo ông A về nhà ông. Đi ngang qua bà B, cô nói to như tiếng kèn đồng xung trận: “Em thương anh nhiều”.
Mở đầu cho cuộc sống mới “chồng già vợ trẻ”, ông A nêu ra yêu cầu: phải biết tôn trọng chính kiến và thể lực, thể trạng người khác, không được áp đặt. Cô H “ô kê” tuốt luốt. Cô H yên lòng soạn thảo “quy ước”. Nói miệng thôi, không cần văn bản. Ông chồng già phải đưa hết tiền cho vợ trẻ để vợ lo mọi chuyện nhà. Chồng phải tìm việc mới cho vợ, một công việc “nhàn nhã, sang trọng, lương cao và ổn định”. Vợ phải chăm sóc sức khỏe và sĩ diện cho chồng, không được quan hệ “bồ bịch” với người khác. Sau ba năm, nếu hai người thấy hạnh phúc sẽ tiếp tục sống thêm ba năm nữa và có thể có con. “Đàn ông ngoài 60 vẫn có thể có con tốt”, cô H nhấn nhá. Ông A chỉ biết nghe và gật đầu. Tiếp đó là chuỗi những tình tiết sống chung của cặp “chồng già vợ trẻ”.
Cái khó nhất của kịch bản này là sự “sống động, chân thực” của các tình tiết “vợ già chồng trẻ” đan xen với “chồng già vợ trẻ”. Không có công thức “tình yêu bằng nhau mọi thứ sẽ bằng nhau”. Chưa nói đến chuyện tuổi tác chênh lệch, chỉ nói đến chuyện khẩu vị ăn uống, khẩu vị tình yêu đã có rất nhiều khác biệt khó có thể dung hòa được. Ông A phải ăn lạt, không ăn cay vì huyết áp cao, cô H nhất thiết phải ăn hơi mặn một chút, cay hơn một chút. Bà B thích ăn cá. Anh K không thích ăn cá, chỉ thích ăn thịt.
Tôi phải đọc thêm rất nhiều sách về y học, về văn hóa ứng xử và tìm hiểu những cặp vợ chồng “chênh lệch về tuổi tác”. Tôi không tin vào trí tưởng tượng của mình. Càng tìm hiểu, càng nghiên cứu sâu hơn, tôi càng thấy bế tắc, giống như lạc trong rừng rậm trong đêm tối không trăng, không sao. Các thứ “nguyên liệu” không thể sắp xếp được. Thật giả lẫn lộn. Mọi thứ như không có trọng lượng. Chúng di chuyển, bay nhảy liên tục. Cái đang “bi” chạy sang “hài”. Đang “hài” rơi xuống “bi”.
Tôi không tin vào chính mình nữa. Tôi không đủ khả năng đẻ ra loại hợp đồng “Tình yêu già trẻ” khác lạ với đời sống thường ngày. Cuối cùng, theo phương thức điều tra xã hội học, tổ chức thăm dò ý kiến những người bình thường xung quanh.
100% người hỏi đều trả lời trong xã hội có hôn nhân già trẻ tồn tại, thời nào cũng có.
10% hôn nhân già trẻ thuộc về tình yêu đích thực, thuần khiết và cao đẹp.
60% hôn nhân già trẻ thuộc về lĩnh vực chính trị, kinh tế, lợi dụng lẫn nhau, xấu nhiều hơn đẹp.
30% còn thuộc về loại do ân nghĩa hoặc hoàn cảnh ép buộc, không xấu cũng không đẹp.
Mọi khảo sát chỉ có ý nghĩa tham khảo. Với tôi, mối quan hệ của 4 nhân vật nói trên thuộc loại chẳng hay mà cũng chẳng dở. Thôi thì cứ viết những ý tưởng đã kể trên về vấn đề này để ta cùng tham khảo, suy ngẫm.
Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/hop-dong-gia-tre-post838089.html











