Hợp tác quốc tế - Động lực xây dựng quốc gia biển mạnh

Xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ đòi hỏi Việt Nam phát huy tiềm năng, lợi thế biển mà còn phải làm chủ tri thức, công nghệ và nâng cao năng lực quản trị. Theo các chuyên gia, hợp tác quốc tế vừa củng cố nội lực, vừa giúp Việt Nam đóng góp có trách nhiệm vào quản trị đại dương toàn cầu.

Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 18 với chủ đề “Cạnh tranh, Kết nối và Hợp tác: Biển Đông và Trật tự hàng hải khu vực” diễn ra từ ngày 7 đến 8/10 tại Hà Nội. (Ảnh: Thành Long)

Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 18 với chủ đề “Cạnh tranh, Kết nối và Hợp tác: Biển Đông và Trật tự hàng hải khu vực” diễn ra từ ngày 7 đến 8/10 tại Hà Nội. (Ảnh: Thành Long)

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh định hướng phát triển biển theo tư duy mới. Theo đó, cần chuyển từ tư duy khai thác sang quản trị biển hiện đại; gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ hệ sinh thái, bảo đảm quốc phòng, an ninh; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Khi kinh tế biển xanh, năng lượng ngoài khơi và quản trị dựa trên dữ liệu phát triển trở thành xu hướng chung trên thế giới, những thách thức như biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học và rủi ro an ninh hàng hải cũng vượt khỏi khả năng giải quyết của từng quốc gia riêng lẻ. Hợp tác quốc tế vì vậy trở thành điều kiện quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh.

Phát biểu tại Diễn đàn Biển Việt Nam 2026, ngày 2/10, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường khẳng định hợp tác quốc tế về biển không thể chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận nguồn lực bên ngoài mà cần chuyển hóa thành năng lực lâu dài của Việt Nam.

Hiệu quả không chỉ được đo bằng vốn đầu tư, số thỏa thuận hay thiết bị tiếp nhận, mà còn bằng năng lực mà Việt Nam duy trì được sau mỗi chương trình. Vốn, công nghệ và tri thức từ bên ngoài chỉ trở thành sức mạnh biển khi hình thành đội ngũ, dữ liệu, quy trình và khả năng tự vận hành trong nước.

Quá trình hợp tác quốc tế cũng đòi hỏi Việt Nam có những đóng góp cụ thể cho quản trị biển và đại dương trên toàn cầu. Theo Thứ trưởng, vị trí chiến lược của Việt Nam chỉ trở thành vị thế trên bản đồ hàng hải quốc tế khi chúng ta đảm nhận những vai trò cụ thể: một mắt xích kết nối ổn định, hay một tiếng nói có cơ sở khoa học trong quản trị biển và đại dương toàn cầu. Những đóng góp này giúp Việt Nam mở rộng dư địa hợp tác và chủ động trước những biến động từ bên ngoài.

Tại Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 và Hội thảo Quốc tế về Biển Đông (7-8/10) lần thứ 18 vừa qua, các chuyên gia đã nhấn mạnh vai trò của hợp tác quốc tế trong việc nâng cao năng lực tự chủ, đồng thời chỉ ra cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào các cơ chế quản trị biển và đại dương trên toàn cầu.

Để làm chủ công nghệ và tri thức

Với PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa XV, một quốc gia biển mạnh cần dựa trên bốn trụ cột: Thể chế và quản trị biển hiện đại; khoa học, công nghệ tiên tiến; kinh tế biển hiệu quả, xanh, bền vững; quốc phòng, an ninh vững mạnh. Trong đó, khoa học, công nghệ và quản trị giúp chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành nguồn lực cho phát triển bền vững.

Theo PGS.TS, tự chủ chiến lược trên biển là mục tiêu cốt lõi, nhưng không đồng nghĩa với việc khép kín hay tự mình giải quyết mọi vấn đề. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, hợp tác quốc tế giúp Việt Nam củng cố năng lực tự chủ, mở rộng các lựa chọn phát triển và thích ứng với những biến động từ bên ngoài.

Hợp tác quốc tế về biển không thể chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận nguồn lực từ bên ngoài mà cần chuyển hóa thành năng lực lâu dài của Việt Nam. Hiệu quả không chỉ được đo bằng vốn đầu tư, số thỏa thuận hay thiết bị tiếp nhận, mà còn bằng năng lực mà Việt Nam duy trì được sau mỗi chương trình.

Nhu cầu này càng cấp thiết khi Việt Nam vươn ra biển xa, biển sâu. PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi lưu ý, đây là môi trường rủi ro cao, khác biệt với vùng ven bờ, đòi hỏi trình độ tổ chức, kỹ thuật và quản trị hiện đại. Nếu không làm chủ công nghệ, Việt Nam sẽ khó tận dụng cơ hội trong những không gian này. Bởi vậy, các chương trình hợp tác cần tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt Nam tham gia thực chất vào quá trình nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ, thay vì chỉ tiếp nhận sản phẩm từ phía đối tác.

Cùng với đó là công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về biển. Một quốc gia biển mạnh không chỉ cần đội ngũ chuyên gia kỹ thuật về hải dương học mà còn cần cán bộ quản lý am hiểu luật pháp quốc tế, kinh tế biển và quản trị hiện đại. Các chương trình đào tạo chung, trao đổi học giả, hợp tác giữa trường đại học và viện nghiên cứu có thể góp phần đáp ứng nhu cầu này.

Quan trọng hơn, hoạt động đào tạo cần kết hợp thế mạnh của đối tác quốc tế với nhu cầu thực tiễn của cơ quan quản lý, địa phương ven biển, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp, để tri thức trở thành năng lực ứng dụng.

Việc Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao) liên tiếp tổ chức các diễn đàn, hội thảo về biển là nỗ lực thiết thực nhằm kết nối nội lực với ngoại lực, hình thành nhận thức chung, gợi mở những ý tưởng, giải pháp và cơ hội hợp tác để thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 20.

Ở góc độ quản trị, PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi nhận định Nghị quyết 20 đánh dấu bước chuyển từ quản lý phân mảnh theo ngành sang quản trị không gian biển liên thông, đồng bộ. Trên thực tế, cùng một vùng biển có thể phục vụ hàng hải, thủy sản, du lịch và năng lượng, dễ phát sinh chồng lấn lợi ích nếu thiếu quy hoạch thống nhất, đồng bộ. Do đó, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về quy hoạch không gian biển, quản lý tổng hợp vùng bờ và điều phối liên ngành sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện thể chế, sử dụng tài nguyên hiệu quả và phát triển kinh tế biển bền vững.

Điểm chung của các lĩnh vực trên là yêu cầu biến hợp tác thành năng lực nội sinh. Tầm vóc quốc gia biển mạnh không chỉ đến từ lợi thế địa lý và đầu tư mà còn từ khả năng làm chủ tri thức, công nghệ và lựa chọn chiến lược trên biển.

Biển và đại dương vừa là không gian phát triển kinh tế, vừa là nơi diễn ra những thách thức xuyên biên giới như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh học và các rủi ro an ninh hàng hải. (Nguồn: VGP)

Biển và đại dương vừa là không gian phát triển kinh tế, vừa là nơi diễn ra những thách thức xuyên biên giới như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh học và các rủi ro an ninh hàng hải. (Nguồn: VGP)

Từ nâng cao nội lực đến chủ động đóng góp

Biển và đại dương vừa là không gian phát triển kinh tế, vừa là nơi diễn ra những thách thức xuyên biên giới như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh học và các rủi ro an ninh hàng hải. Vì vậy, hợp tác quốc tế cần vượt ra khỏi việc huy động nguồn lực, hướng tới quản lý rủi ro, bảo vệ môi trường và xây dựng khuôn khổ quản trị chung dựa trên luật pháp quốc tế. Khi nội lực được nâng cao, Việt Nam cũng có thêm điều kiện để đóng góp vào việc giải quyết những thách thức này.

Theo bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Nghị quyết 20 phù hợp với các ưu tiên toàn cầu về bảo tồn, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Việt Nam có thể chia sẻ kinh nghiệm ứng phó với nước biển dâng, xâm nhập mặn, phát triển sinh kế ven biển và tăng cường hợp tác với các nước có mối quan tâm tương đồng.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang chủ động góp phần gìn giữ hòa bình, ổn định ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Việt Nam nhất quán khẳng định UNCLOS là khuôn khổ pháp lý toàn diện cho các hoạt động trên biển và đại dương, tạo nền tảng cho hợp tác trong các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, tìm kiếm cứu nạn và quản lý rủi ro.

Trên cơ sở đó, không chỉ thực thi các quy định hiện hành, Việt Nam còn tham gia cùng cộng đồng quốc tế phát triển, cụ thể hóa các khuôn khổ pháp lý nhằm đáp ứng những vấn đề mới trong quản trị đại dương.

Tiêu biểu là việc Việt Nam tham gia xây dựng Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ). Việt Nam tham gia tiến trình thảo luận từ giai đoạn 2004 - 2015 và các phiên đàm phán chính thức giai đoạn 2018–2023; ký Hiệp định ngay ngày đầu mở ký tháng 9/2023, nộp văn kiện phê duyệt vào tháng 6/2025, thuộc nhóm 60 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục, góp phần đưa Hiệp định có hiệu lực vào ngày 17/1.

Sự tham gia từ sớm thể hiện vai trò chủ động của Việt Nam trong việc phát triển các chuẩn mực quản trị đại dương dựa trên UNCLOS. Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ, BBNJ mở ra cơ hội tiếp cận tri thức, dữ liệu, công nghệ tiên tiến và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen biển. Các cơ chế tài chính, xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ cũng hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực nghiên cứu, quản trị biển. Như vậy, BBNJ cho thấy đóng góp cho quản trị đại dương toàn cầu và củng cố nội lực quốc gia là hai quá trình bổ trợ lẫn nhau.

Tại Diễn đàn Biển Việt Nam 2026, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường cũng nhấn mạnh, những đóng góp này giúp Việt Nam mở rộng dư địa hợp tác và lựa chọn trước biến động bên ngoài. Theo Thứ trưởng, vị trí chỉ trở thành vị thế trên bản đồ hàng hải quốc tế khi Việt Nam đảm nhận vai trò cụ thể: một mắt xích kết nối ổn định, hay một tiếng nói có cơ sở khoa học trong quản trị biển và đại dương toàn cầu.

Xây dựng quốc gia biển mạnh vì thế đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa tự chủ và hội nhập. Tận dụng nguồn lực quốc tế để củng cố nội lực, đồng thời dùng chính nội lực ấy để đóng góp cho cộng đồng quốc tế, Việt Nam sẽ ngày càng có thêm điều kiện thực hiện các mục tiêu chiến lược và khẳng định vị thế một quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, có trách nhiệm trong khu vực và trên thế giới.

Nguyễn Nhuận

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/hop-tac-quoc-te-dong-luc-xay-dung-quoc-gia-bien-manh-464253.html