Hướng dẫn cách chuyển sổ đỏ hộ gia đình sang tên cá nhân
Muốn chuyển sổ đỏ hộ gia đình sang cá nhân, người dân cần nắm rõ điều kiện, trình tự thủ tục và nghĩa vụ tài chính liên quan…

Có 2 cách chuyển sổ đỏ hộ gia đình sang tên cá nhân
Chuyển sổ đỏ hộ gia đình sang tên cá nhân là việc thực hiện thủ tục pháp lý để chuyển quyền sử dụng đất từ Giấy chứng nhận đứng tên hộ gia đình sang cho một cá nhân cụ thể. Việc này thường phát sinh khi các thành viên trong gia đình có nhu cầu thống nhất để một người đứng tên quyền sử dụng đất nhằm thuận tiện cho việc quản lý, giao dịch hoặc thực hiện các quyền khác theo quy định pháp luật.
CÁC BƯỚC CHUYỂN SỔ ĐỎ HỘ GIA ĐÌNH SANG CÁ NHÂN
Theo quy định, sổ đỏ có thể được cấp cho hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức. Trong đó, sổ đỏ cấp cho hộ gia đình là sổ ghi nhận quyền sử dụng đất chung của các thành viên có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, đang cùng sinh sống và có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất. Do là quyền sử dụng chung nên khi thực hiện chuyển nhượng hoặc tặng cho đất hộ gia đình, bắt buộc phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên có chung quyền sử dụng đất.
Người dân muốn chuyển sổ đỏ hộ gia đình sang tên cá nhân phải thực hiện thông qua một trong hai hình thức là tặng cho hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Về chuyển sổ đỏ hộ gia đình sang tên cá nhân thông qua tặng cho quyền sử dụng đất thủ tục được thực hiện theo 3 bước sau:
Bước 1: Lập và công chứng hoặc chứng thực hợp đồng tặng cho
Các bên cần chuẩn bị hồ sơ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy tờ tùy thân của bên tặng cho và bên nhận tặng cho (CMND/CCCD/hộ chiếu); giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân, huyết thống. Hợp đồng tặng cho phải được công chứng hoặc chứng thực tại phòng công chứng hoặc văn phòng công chứng thuộc tỉnh, thành phố nơi có đất.
Bước 2: Kê khai nghĩa vụ tài chính
Mặc dù tặng cho quyền sử dụng đất giữa các thành viên trong gia đình thường được miễn thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ, nhưng người dân vẫn phải thực hiện việc kê khai theo đúng quy định. Trên thực tế, bước kê khai này thường được thực hiện đồng thời với bước đăng ký biến động.
Bước 3: Đăng ký biến động (sang tên sổ đỏ)
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng tặng cho có hiệu lực, người nhận tặng cho phải nộp hồ sơ đăng ký biến động. Hồ sơ bao gồm: đơn đăng ký biến động; hợp đồng tặng cho đã công chứng hoặc chứng thực; bản gốc Giấy chứng nhận; tờ khai thuế thu nhập cá nhân; tờ khai lệ phí trước bạ; giấy tờ chứng minh thuộc diện miễn thuế, phí. Hồ sơ được nộp tại Bộ phận Một cửa hoặc Văn phòng đăng ký đất đai. Thời gian giải quyết không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Ngoài hình thức tặng cho, các thành viên trong hộ gia đình có thể thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho một cá nhân đứng tên. Trường hợp này, tất cả các thành viên có chung quyền sử dụng đất phải lập văn bản đồng ý chuyển nhượng và văn bản này phải được công chứng hoặc chứng thực.
Trình tự thực hiện cũng gồm 3 bước cụ thể như sau:
Bước 1: Công chứng hoặc chứng thực hợp đồng chuyển nhượng
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập và công chứng hoặc chứng thực tại tổ chức hành nghề công chứng nơi có đất. Việc ký kết hợp đồng phải có sự tham gia hoặc ý kiến đồng ý hợp pháp của các thành viên trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất.
Bước 2: Nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ
Các bên thực hiện kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ theo quy định. Trường hợp có thỏa thuận, người nhận chuyển nhượng có thể nộp thuế thay cho bên chuyển nhượng.
Bước 3: Nộp hồ sơ đăng ký sang tên (đăng ký biến động)
Người nhận chuyển nhượng nộp hồ sơ đăng ký biến động tại cơ quan đăng ký đất đai để được cấp sổ đỏ đứng tên cá nhân. Bước 2 và bước 3 có thể thực hiện cùng thời điểm nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục.
NGƯỜI DÂN LÚNG TÚNG TRƯỚC YÊU CẦU GIẤY TỜ LỊCH SỬ
Dù thủ tục là vậy, tuy nhiên trong nhiều trường hợp thực tế, người dân cũng gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi sổ đỏ này. Đơn cử là trường hợp của gia đình ông Đặng Công Hợp ở Hà Nội có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình và người đứng tên là bố ông vào thời điểm 12/9/2002. Nay ông Hợp muốn chuyển đổi sang tên cá nhân ông.
Ông Hợp được Địa chính xã và Văn phòng công chứng hướng dẫn chuẩn bị nhiều giấy tờ thủ tục, trong đó có giấy xác nhận các thành viên hộ gia đình tại thời điểm 12/9/2002. Ông đến công an cấp xã xin giấy xác nhận này, nhưng chỉ được xác nhận tại thời điểm ngày 29/8/2003 vì trước đó không còn dữ liệu nữa.
Với giấy xác nhận nêu trên Văn phòng công chứng không có căn cứ làm hồ sơ sang tên cho cá nhân ông Hợp vì không có dữ liệu thành viên hộ gia đình tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận ngày 12/9/2002, mặc dù giấy tờ khác của ông đầy đủ.
Ông Hợp thắc mắc rằng, ông phải làm thế nào để có thể làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình sang tên cá nhân ông? Có thể thay thế giấy tờ khác hay không?

Về nội dung này Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, phản ánh của ông Hợp là vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương và cần căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể địa phương đã ban hành theo thẩm quyền để thi hành Luật Đất đai để xem xét, giải quyết; do đó, Bộ nêu một số nguyên tắc như sau:
Pháp luật đất đai hiện hành đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại mục VI nội dung C Phần V Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.
Các loại giấy tờ liên quan đến nội dung đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất quy định tại II.2 mục II nội dung B Phần V Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin đến ông được biết và nghiên cứu thực hiện. Trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về đất đai, trường hợp ông không đồng ý với kết quả giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương thì ông Hợp có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai theo quy định tại Điều 237 Luật Đất đai và Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011.











