Khắc phục 'thẻ vàng' IUU: Quản lý chặt đội tàu cá, truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các tỉnh, thành phố ven biển có tàu cá tăng cường quản lý đội tàu cá, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác.

Các địa phương tăng cường quản lý đội tàu cá. Ảnh minh họa: Hữu Chí - TTXVN
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có văn bản gửi Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố ven biển có tàu cá về việc tăng cường quản lý đội tàu cá, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác.
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố ven biển có tàu cá tăng cường quản lý đội tàu cá.
Các tỉnh, thành phố rà soát, đối chiếu thông tin tàu cá giữa hồ sơ quản lý tại địa phương và cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase); cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin về đăng ký, đăng kiểm đối với tàu thuộc diện phải đăng kiểm, giấy phép khai thác thủy sản, thiết bị giám sát hành trình (VMS) và tình trạng hoạt động của từng tàu cá. Phân loại rõ tàu cá đủ điều kiện hoạt động, tàu cá chưa đủ điều kiện hoạt động, tàu cá không còn hoạt động, tàu cá đã xóa đăng ký và các trường hợp khác cần quản lý theo quy định.
Các địa phương phân công cụ thể cơ quan, đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi từng nhóm tàu cá; xác định nguyên nhân và xử lý các trường hợp dữ liệu thiếu, sai lệch hoặc chưa thống nhất. Việc cập nhật, hiệu chỉnh dữ liệu phải căn cứ hồ sơ, tài liệu hợp pháp, bảo đảm thông tin chính xác, thống nhất giữa hồ sơ quản lý tại địa phương và VNFishbase, có khả năng kiểm tra, đối chiếu và truy xuất phục vụ công tác quản lý, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản.
Đối với công tác cấp, quản lý giấy phép khai thác thủy sản, các tỉnh, thành phố khẩn trương rà soát, phân loại tàu cá chưa được cấp giấy phép khai thác thủy sản, tàu cá có giấy phép hết hạn hoặc thông tin giấy phép chưa thống nhất với hồ sơ quản lý; hướng dẫn chủ tàu hoàn thiện hồ sơ, giải quyết thủ tục thuộc thẩm quyền kịp thời, đúng quy định. Đối với tàu cá không đáp ứng điều kiện cấp giấy phép khai thác thủy sản, tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ, không để tiếp tục hoạt động khai thác thủy sản trái quy định.
Việc giải quyết thủ tục hành chính về cấp giấy phép khai thác thủy sản phải bảo đảm đúng thành phần hồ sơ, trình tự, điều kiện và thẩm quyền theo quy định tại Nghị định số 41/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản và các quy định pháp luật có liên quan.
Các địa phương không tự đặt thêm thủ tục, giấy tờ hoặc điều kiện ngoài quy định. Đồng thời, kịp thời phát hiện, xác minh, xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với các trường hợp cố ý vi phạm hoặc sử dụng hồ sơ, thông tin không chính xác để đề nghị cấp giấy phép khai thác thủy sản.
Các ban quản lý cảng cá, cơ quan quản lý thủy sản và các lực lượng chức năng tại địa phương phối hợp kiểm soát tàu cá ra, vào cảng theo quy định; kiểm tra, đối chiếu thông tin tàu cá, giấy phép khai thác thủy sản và các thông tin liên quan. Phối hợp với Bộ đội Biên phòng và các cơ quan, đơn vị có liên quan bảo đảm thông tin kiểm soát tàu cá ra, vào cảng được ghi nhận đầy đủ, chính xác, thống nhất.
Các đơn vị thực hiện nghiêm việc kê khai, tiếp nhận, cập nhật thông tin tàu cá rời cảng, cập cảng và các thông tin liên quan trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) theo quy định của pháp luật.
Thường xuyên đối chiếu dữ liệu trên Hệ thống eCDT với hồ sơ tại cảng cá, thông tin quản lý tàu cá và kết quả kiểm soát của các lực lượng chức năng; kịp thời xác minh, xử lý hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp thiếu dữ liệu, sai lệch, trùng lặp hoặc chưa thống nhất.
Trường hợp phát sinh sự cố kỹ thuật, kết nối hoặc đồng bộ dữ liệu trên Hệ thống eCDT, các cơ quan, đơn vị liên quan kịp thời thông báo, phối hợp với Cục Thủy sản và Kiểm ngư xác định nguyên nhân, khắc phục sự cố. Việc sử dụng hồ sơ, phương thức thay thế và cập nhật dữ liệu sau khi hệ thống hoạt động trở lại phải thực hiện theo quy định pháp luật, bảo đảm đầy đủ căn cứ kiểm tra, đối chiếu và truy xuất thông tin.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát sản lượng thủy sản thực tế bốc dỡ qua cảng; đối chiếu sản lượng thực tế với nhật ký khai thác, dữ liệu kiểm soát tàu cá ra, vào cảng, thông tin giám sát hành trình tàu cá (VMS) và dữ liệu trên Hệ thống eCDT. Tập trung kiểm tra, xác minh các trường hợp có dấu hiệu bất thường về thời gian, hành trình khai thác, loài thủy sản, sản lượng, địa điểm bốc dỡ hoặc có thông tin chưa thống nhất giữa thực tế, hồ sơ và dữ liệu liên quan.

Các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát sản lượng thủy sản thực tế bốc dỡ qua cảng. Ảnh minh họa: Đình Quân - TTXVN
Việc cấp Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác và Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác phải bảo đảm đúng điều kiện, thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại Văn bản hợp nhất số 80/2026/VBHN-TT-BNNMT ngày 27/8/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Không thực hiện xác nhận, chứng nhận đối với hồ sơ không đáp ứng điều kiện theo quy định; trường hợp có dấu hiệu bất thường hoặc thông tin chưa thống nhất, phải kiểm tra, xác minh, làm rõ trước khi giải quyết hồ sơ.
Cùng với đó là kịp thời phát hiện, lập hồ sơ và xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với các trường hợp vi phạm, đặc biệt là hành vi khai báo không đúng sản lượng hoặc hợp thức hóa nguồn gốc thủy sản khai thác bất hợp pháp.
Các địa phương phải rà soát, lập danh sách và tổ chức quản lý chặt chẽ tàu cá có nguy cơ cao vi phạm khai thác IUU; tàu cá không đủ điều kiện hoạt động, tàu cá chưa đăng ký, chưa được cấp giấy phép khai thác thủy sản và các trường hợp thuộc diện phải theo dõi, kiểm soát theo quy định. Phân công cụ thể cơ quan, đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm theo dõi từng tàu cá; xác định rõ tình trạng pháp lý, chủ tàu, vị trí neo đậu và biện pháp quản lý tương ứng.
Đối với tàu cá “ba không” (không đăng ký, không đăng kiểm đối với tàu thuộc diện phải đăng kiểm, không có giấy phép khai thác thủy sản), địa phương phải xác định rõ hiện trạng, nguyên nhân chưa đáp ứng điều kiện và biện pháp quản lý, xử lý phù hợp với quy định pháp luật; không để tàu cá không đủ điều kiện tiếp tục hoạt động khai thác thủy sản trái quy định. Thường xuyên cập nhật tình trạng quản lý và kết quả xử lý đối với từng tàu cá trên cơ sở dữ liệu, hệ thống có liên quan theo chức năng, thẩm quyền.
Đối với tàu cá có dấu hiệu vi phạm phải kịp thời xác minh vụ việc, lập hồ sơ và xử lý theo quy định; việc đưa tàu cá vào danh sách theo dõi không thay thế trách nhiệm xác minh, xử lý hành vi vi phạm.
Về việc lắp đặt, duy trì hoạt động thiết bị VMS, các địa phương rà soát, phân loại chính xác tình trạng lắp đặt, hoạt động của thiết bị VMS đối với từng tàu cá thuộc diện phải lắp đặt theo quy định; làm rõ các trường hợp chưa lắp đặt, thiết bị hư hỏng, mất kết nối, không duy trì dịch vụ hoặc có dấu hiệu can thiệp, vô hiệu hóa thiết bị. Phối hợp với chủ tàu, đơn vị cung cấp thiết bị và dịch vụ VMS xác định nguyên nhân, khắc phục sự cố và duy trì hoạt động thiết bị theo quy định.
Cùng với đó là tăng cường theo dõi, khai thác dữ liệu VMS để phát hiện, xác minh các trường hợp mất kết nối khi tàu đang hoạt động trên biển, có dấu hiệu vượt ranh giới cho phép trên biển, không duy trì truyền dữ liệu theo quy định hoặc có hành trình bất thường. Đối chiếu dữ liệu VMS với thông tin tàu cá ra, vào cảng, nhật ký khai thác và dữ liệu trên Hệ thống eCDT để phục vụ xác minh vụ việc, xác định hành vi vi phạm và xử lý theo thẩm quyền.
Đối với từng trường hợp mất kết nối hoặc có dấu hiệu vi phạm, phải làm rõ thời điểm, thời gian, nguyên nhân, tình trạng hoạt động của tàu và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan; lập, quản lý hồ sơ xác minh, xử lý theo quy định. Phân biệt rõ sự cố kỹ thuật với hành vi vi phạm đã được xác minh; không kết luận vi phạm chỉ dựa trên trạng thái hiển thị của hệ thống khi chưa đủ căn cứ, đồng thời không để việc chậm xác minh, đối soát dữ liệu làm kéo dài quá trình xử lý vụ việc.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị các tỉnh, thành phố rà soát, kiểm tra việc chấp hành quy định của các tổ chức, cá nhân thu mua, tiếp nhận, bảo quản, vận chuyển, chế biến thủy sản và doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn có sử dụng nguyên liệu thủy sản khai thác nhập khẩu. Kịp thời phát hiện, xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm.
