Khát vọng lứa đôi của người rối loạn phát triển
Khi nhắc đến rối loạn phát triển thần kinh, người ta nghĩ ngay đến những đứa trẻ được cha mẹ dắt đi chẩn đoán, can thiệp sớm và tìm môi trường hòa nhập. Nhưng khi bước vào tuổi trưởng thành, đời sống tình cảm của họ sẽ ra sao? Họ có mưu cầu hạnh phúc lứa đôi, có mong muốn trải nghiệm quyền làm cha mẹ và thực sự cần xã hội hỗ trợ những gì?
"Dệt mộng" lặng thầm
D.T (sinh viên ở TPHCM) cho biết, lúc nhỏ bạn được gọi là “Thánh Gióng” vì đã 3 tuổi mà chưa biết nói, ánh mắt nhìn xa xăm, luôn thu mình một góc. Tại Khoa Tâm lý, Bệnh viện Nhi Đồng 2 (TPHCM), chuyên gia kết luận T. mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ. Nhờ được chẩn đoán và thiết kế chương trình can thiệp phù hợp cùng sự phối hợp hỗ trợ của gia đình, nhà trường, T. đã tiến bộ từng ngày.
Sắp tốt nghiệp đại học, bước đến ngưỡng cửa lập thân, lập nghiệp đã đánh dấu một hành trình bền bỉ, đầy nỗ lực của không chỉ riêng T. Khi được hỏi về đời sống tình cảm, T. trầm giọng, bộc bạch: “Em chỉ giữ tình bạn bình thường, có thích bạn gái cũng không dám nói ra”.

PGS-TS Trần Thị Lệ Thu, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và một trẻ đang được can thiệp sớm tại viện. Ảnh: PHẠM THỊ SINH
Theo luật sư Đỗ Ngọc Thanh (Đoàn Luật sư TPHCM), xã hội cần thay đổi cách nhìn đối với người có rối loạn phát triển thần kinh khi họ bước vào tuổi trưởng thành. Họ không chỉ có nhu cầu học tập, làm việc và hòa nhập cộng đồng, mà còn có nhu cầu yêu, kết đôi, kết hôn và làm cha mẹ như những người khác. Pháp luật hiện hành không cấm một người kết hôn chỉ vì họ có rối loạn phát triển thần kinh (tự kỷ, tăng động, giảm chú ý - ADHD, khuyết tật trí tuệ…).
Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định điều kiện kết hôn gồm: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn phải tự nguyện; người kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự; và không thuộc các trường hợp cấm theo Điều 5 của luật này.
Luật sư Ngọc Thanh nhấn mạnh, điểm cần phân biệt là có chẩn đoán y khoa không đồng nghĩa với mất năng lực hành vi dân sự. Theo Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015, chỉ khi một người do bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi và đã có quyết định của Tòa án trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần thì mới bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự. Pháp luật còn có khái niệm “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” tại Điều 23, nhưng đây cũng không phải là sự đồng nhất với mất năng lực.
“Vì vậy, điều cần đánh giá không phải là “người này có chẩn đoán gì”, mà là họ có đủ khả năng nhận thức, tự nguyện lựa chọn bạn đời, hiểu quyền và nghĩa vụ của hôn nhân, có kỹ năng sống và có hệ thống hỗ trợ phù hợp hay không. Gia đình nên đồng hành, tư vấn và hỗ trợ thay vì quyết định thay. Quyền mưu cầu hạnh phúc không nên bị lấy đi chỉ vì một chẩn đoán y khoa. Điều đúng hơn là giúp họ có đủ năng lực, kỹ năng và điều kiện để bước vào hôn nhân một cách an toàn, có trách nhiệm”, luật sư Ngọc Thanh chia sẻ.
Cần hoàn thiện chính sách
Chị N.T.T. (công tác ngành y, ngụ phường Tân Sơn Nhì, TPHCM) có con trai từng được chẩn đoán mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ lúc 2 tuổi. Qua quá trình can thiệp tích cực, bền bỉ, từ một đứa trẻ vào lớp 1 chưa biết nói, không giao tiếp, con chị hiện ở tuổi 24 đã tự lực sinh hoạt, tự nấu ăn, chạy xe đi học, gặp gỡ bạn bè, đi chợ giúp mẹ…
Cuộc sống gia đình đã ổn nhưng chị vẫn ấp ủ mong mỏi con có người yêu, tìm được bạn đời. Từ lớp 1, con trai chị được cô giáo xếp ngồi cạnh bạn lớp trưởng. Bạn ấy soạn tập vở giúp, chỉ bài, chăm sóc cậu suốt những năm học chung lớp. Mười mấy năm trôi qua, đôi bạn vẫn giữ liên lạc, mỗi dịp tết gặp nhau uống cà phê.
Chị biết con quý mến bạn nhưng không dám bày tỏ. Mặc cảm này không chỉ của riêng con chị T. mà là điểm chung của nhiều bạn trẻ mang khuyết tật nói chung và người có rối loạn phát triển nói riêng.
Báo cáo nghiên cứu “Cha mẹ có khuyết tật trí tuệ tại Việt Nam: Tổng quan thực trạng hiện tại từ góc nhìn của các nhà chuyên môn” của nhóm tác giả PGS-TS Trần Thị Lệ Thu, TS Nguyễn Thị Cẩm Hường và TS Trần Thị Bích Ngọc chỉ ra: Có 82,4% (150/182) chuyên gia đồng ý người khuyết tật trí tuệ có quyền kết hôn và sinh con; gần 17,6% còn lại bày tỏ quan điểm e ngại, chưa ủng hộ.
Dù vậy, góc nhìn của giới chuyên môn vẫn bị chi phối đáng kể bởi mức độ rối loạn, có 86,8% ý kiến cho rằng người khuyết tật trí tuệ mức độ nhẹ mới có thể lập gia đình, làm cha mẹ.
TRỌNG NGÂN
Chị T.T. tâm sự: “Là một người mẹ, tôi mong con có gia đình như bao người trẻ khác. Tuy vậy, tôi không thúc ép mà để mọi chuyện thuận theo tự nhiên và tôn trọng lựa chọn của con. Điều tôi lo nhất không phải là vấn đề tài chính hay con sẽ vụng về trong việc sắp xếp cuộc sống, chăm sóc người thân mà là người bạn đời sau này có đủ thấu hiểu con hay không.
Con tôi chậm hơn người khác trong giao tiếp, đôi khi lời nói gây hiểu lầm, nhưng tôi tin một người con gái thương con mình thật lòng sẽ bỏ qua tất cả và trân trọng sự chân thành của con. Mong xã hội đừng vì những rào cản ấy mà dập tắt nguyện vọng yêu thương, lập gia đình của các con khi trưởng thành”.
PGS-TS Trần Văn Công, Khoa Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), chia sẻ: “Quan sát trên thực tế, tôi thấy nhiều trường hợp bố mẹ không có khuyết tật vẫn có thể sinh ra con khuyết tật và ngược lại, bố mẹ khuyết tật có thể sinh ra con không khuyết tật. Nên tôn trọng quyền sinh con của người khuyết tật vì họ có thể mang lại cho thế hệ sau những con người khỏe mạnh, phát triển bình thường, tốt cho xã hội”.
PGS-TS Trần Thị Lệ Thu, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đề xuất: “Cần sớm hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, xây dựng hướng dẫn pháp lý rõ ràng về quyền kết hôn, sinh con và bảo vệ trẻ em có cha mẹ là người khuyết tật trí tuệ nói riêng, người rối loạn phát triển nói chung theo Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của Người Khuyết tật (CRPD) và Luật Người khuyết tật Việt Nam. Đồng thời cần chuyển dịch từ hỗ trợ tự phát sang xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng làm cha mẹ phù hợp với khả năng của người khuyết tật trí tuệ, người rối loạn phát triển tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần tổ chức các khóa bồi dưỡng nâng cao nhận thức, giảm định kiến cho giáo viên can thiệp, nhà công tác xã hội, nhà tâm lý, nhà giáo dục, cán bộ y tế và cộng đồng đối với người khuyết tật trí tuệ, người rối loạn phát triển”.
Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/khat-vong-lua-doi-cua-nguoi-roi-loan-phat-trien-post873644.html


