Khi nào con cái bị truất quyền thừa kế tài sản của cha mẹ?
Bạn đọc Ngân Khánh (Ninh Bình) hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi nào con cái bị truất quyền thừa kế tài sản của cha mẹ?

Hình ảnh minh họa/ITN
Luật sư Hoàng Văn Chiển, Đoàn Luật sư TP Hà Nội tư vấn cho câu hỏi này như sau:
Căn cứ theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định quyền của người lập di chúc:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
Như vậy, cha mẹ có thể truất quyền hưởng di sản của con cái và việc truất quyền thừa kế tài sản phải thể hiện nội dung này trong di chúc, có thể là không chỉ định người con này là người thừa kế hoặc ghi rõ nội dung người con này không được quyền hưởng di sản của người thừa kế.
Tuy nhiên, người con thuộc trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 thì vẫn được nhận thừa kế tài sản dù cha mẹ không chia quyền thừa kế trong di chúc hay có ghi nội dung không chia tài sản cho người con.
Các trường hợp người con là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm con chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động.
Ngoài ra, trường hợp chia thừa kế theo pháp luật sẽ chia theo hàng thừa kế theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;...
Theo đó, con bao gồm con đẻ, con nuôi của người chết thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng thừa kế theo pháp luật, trừ các trường hợp sau sẽ không được hưởng thừa kế:
Từ chối nhận di sản nhưng không được từ chối để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ do người để lại di sản để lại (Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015);
Người không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm:
+ Con cái bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ cha mẹ là người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
+ Con cái vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ là người để lại di sản;
+ Con cái bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
+ Con cái có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản cha mẹ là người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Tuy nhiên, những trường hợp trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.


