Khi người dân mạnh dạn chuyển đổi, nâng cao thu nhập
Từ yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất, người dân khu vực Đạ Tẻh từng bước chuyển đổi những diện tích kém hiệu quả được thay thế bằng cây trồng có giá trị cao hơn. Đồng thời, đầu tư theo hướng liên kết, chế biến, qua đó, nâng giá trị sản xuất và mở thêm sinh kế.

Nông dân khu vực Đạ Tẻh chuyển đổi cơ cấu cây trồng thành công
Chọn cây trồng phù hợp
Với người nông dân, quyết định thay đổi cây trồng không phải lúc nào cũng dễ dàng, bởi mỗi loại cây đều gắn với vốn đầu tư, kỹ thuật và thời gian chờ thu hoạch. Vì vậy, việc được tiếp cận thông tin, tập huấn kỹ thuật và học hỏi những mô hình phù hợp giúp người dân có thêm cơ sở để lựa chọn.
Gia đình bà Lê Thị Hằng ở thôn 4, xã Đạ Tẻh 2 là một trong số những hộ dân chuyển đổi thành công từ diện tích 8 sào trồng điều trước đây sang trồng sầu riêng Thái.
Vườn hiện có 180 cây, khoảng 4 năm tuổi. Bà Hằng cho biết, so với cây điều, sầu riêng đòi hỏi chăm sóc kỹ và vốn đầu tư ban đầu lớn hơn, nhưng hiệu quả kinh tế cao hơn. “Cây phát triển ổn định, đầu ra thuận lợi, giá trị kinh tế cao hơn hẳn, giúp gia đình có thu nhập ổn định và yên tâm gắn bó với vườn rẫy”, bà chia sẻ.
Được biết, ở thôn 4, xã Đạ Tẻh 2, sự thay đổi cơ cấu cây trồng được thể hiện khá rõ trong khoảng 7 năm trở lại đây. Toàn thôn đã chuyển đổi khoảng 97 ha đất sản xuất, chủ yếu từ cây điều, bưởi sang sầu riêng, ca cao và những loại cây có hiệu quả kinh tế cao hơn. Từ đó thu nhập bình quân đầu người của thôn hiện đạt khoảng 65 triệu đồng/năm.
Từ những mô hình cụ thể, cách nghĩ về sản xuất cũng dần thay đổi. Người dân không chỉ quan tâm cây gì dễ trồng mà chú ý hơn đến hiệu quả, kỹ thuật chăm sóc và đầu ra sản phẩm.

Tre tầm vông được người dân buôn Tố Lan trồng để tăng thêm thu nhập
Giữ cây, mở thêm sinh kế
Nếu Đạ Tẻh 2 cho thấy hướng chuyển từ cây trồng hiệu quả thấp sang cây có giá trị cao, thì ở xã Đạ Tẻh câu chuyện cây tầm vông lại cho thấy một hướng đi khác.
Tại buôn Tố Lan, cây tầm vông đã gắn với đời sống của đồng bào Mạ từ năm 2013, khi 20 hộ dân được giao gần 28 ha đất để trồng theo đề án của tỉnh. Phần lớn những hộ này thuộc diện nghèo, thiếu đất sản xuất. Qua nhiều năm, tầm vông trở thành nguồn sinh kế gắn với đời sống của người dân trong buôn.
Đến nay, sản phẩm được sơ chế, gia công thành bàn, ghế, giường, tủ... Xưởng duy trì nhiều lao động thường xuyên, chủ yếu là đồng bào Mạ, những thời điểm nhiều đơn hàng có thể tăng lên hơn 30 người. Thu nhập của lao động tham gia sơ chế, gia công đạt khoảng 6 - 8 triệu đồng/người/tháng.
Ông K’Mẫu, thợ lành nghề của hợp tác xã cho rằng, công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn, nhưng đổi lại tạo việc làm ngay tại buôn. “Nhờ nghề này mà nhiều người Mạ không còn bươn chải nơi núi rừng, đi làm thuê xứ khác để lo cho cuộc sống”, ông nói.
Với K’Mưn, sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Bảo Lộc, trở về buôn làng và tiếp nối công việc với cây tầm vông mà cha mình - già làng K'Miếu đã gây dựng, cây tầm vông không chỉ là sinh kế mà còn là một phần ký ức của người Mạ.
Từ hai cách làm ở Đạ Tẻh 2 và Đạ Tẻh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đang được người dân nhìn từ yêu cầu thực tế của đất đai và thị trường. Với người dân, đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số, hiệu quả của chuyển đổi càng được nhìn rõ qua khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập và giữ người dân gắn bó với buôn làng. Khi cây trồng phù hợp được đặt cùng kỹ thuật, liên kết và chế biến, giá trị của đất không chỉ được tính bằng một mùa vụ, mà còn bằng khả năng tạo dựng sinh kế lâu dài cho người dân.
Nhờ nghề này mà nhiều người Mạ không còn bươn chải nơi núi rừng, đi làm thuê xứ khác để lo cho cuộc sống.
Ông K’Mẫu - buôn Tố Lan
