Khơi dòng vốn cho doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng

Ngày 16/9 tại Hải Phòng, Bộ Công Thương tổ chức Hội thảo “Tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp: Từ chính sách đến hành động thực tiễn”, trong khuôn khổ Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030 (VNEEP3).

Ông Nguyễn Đình Hiệp - Chủ tịch Hội Khoa học và công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam (VECEA) phát biểu khai mạc Hội thảo.

Ông Nguyễn Đình Hiệp - Chủ tịch Hội Khoa học và công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam (VECEA) phát biểu khai mạc Hội thảo.

Dư địa hàng nghìn tỷ đồng

Theo Bộ Công Thương, lĩnh vực công nghiệp hiện chiếm trên 50% tổng tiêu thụ năng lượng quốc gia. Riêng hơn 3.000 cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm tiêu thụ trên 80 tỷ kWh điện mỗi năm. Nếu các cơ sở này tiết kiệm tối thiểu 2% điện năng, lượng điện tiết kiệm có thể đạt khoảng 1,6 tỷ kWh, tương đương hơn 3.200 tỷ đồng tiền điện mỗi năm.

Dư địa còn hiện hữu ngay trong từng dây chuyền. Theo TS. Trần Văn Lượng, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật nhiệt Việt Nam, năng lượng nhiệt có thể chiếm khoảng 50-70% tổng năng lượng sử dụng tại nhiều doanh nghiệp sản xuất. Qua thực tiễn kiểm toán năng lượng, lĩnh vực này vẫn còn khoảng 10-20% dư địa tiết kiệm thông qua cải tiến công nghệ và nâng cao hiệu quả vận hành, tùy ngành.

Kết quả VNEEP3 giai đoạn 2019-2025 cũng cho thấy khoảng 2.000 doanh nghiệp đã được hỗ trợ kỹ thuật thực hiện kiểm toán năng lượng và xây dựng mô hình quản lý; dữ liệu của khoảng 3.500 cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm đã được số hóa. Tỷ lệ tiết kiệm điện toàn quốc giai đoạn 2020-2025 đạt trên 2% mỗi năm.

Những con số này cho thấy tiết kiệm năng lượng có thể tạo ra hiệu quả kinh tế đáng kể. Vấn đề là để giảm được một đồng chi phí năng lượng trong nhiều năm, doanh nghiệp thường phải bỏ vốn đầu tư ngay từ đầu.

Bộ Công Thương cũng cho rằng, việc triển khai các dự án tiết kiệm năng lượng vẫn gặp khó khăn khi nhiều dự án có thời gian hoàn vốn dài hoặc khó tiếp cận nguồn vốn phù hợp. Bên cạnh đó, năng lực quản trị năng lượng, kiểm toán và ứng dụng công nghệ tại một số cơ sở còn hạn chế.

Kinh nghiệm từ các chương trình hỗ trợ trước đây cho thấy cơ chế chia sẻ rủi ro có thể là một lời giải. Ngân hàng Thế giới và Quỹ Khí hậu Xanh từng dành gói hỗ trợ 86,3 triệu USD, trong đó có khoản bảo lãnh 75 triệu USD để hỗ trợ các ngân hàng trong nước giảm rủi ro khi cho vay dự án tiết kiệm năng lượng. Cơ chế này được kỳ vọng huy động khoảng 250 triệu USD tài chính thương mại cho doanh nghiệp công nghiệp và các công ty dịch vụ năng lượng.

TS. Nguyễn Thu Hiền – Viện trưởng Viện Cơ khí năng lượng và Mỏ - VINACOMIN trình bày chuyên đề 4: Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao hiệu quả năng lượng mỏ.

TS. Nguyễn Thu Hiền – Viện trưởng Viện Cơ khí năng lượng và Mỏ - VINACOMIN trình bày chuyên đề 4: Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao hiệu quả năng lượng mỏ.

Cần nối chính sách – công nghệ – tài chính

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển về hành lang pháp lý khi Luật số 77/2025/QH15 và Nghị định số 30/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Theo Bộ Công Thương, khung pháp lý mới tạo cơ sở thúc đẩy kiểm toán năng lượng, hệ thống quản lý năng lượng, đổi mới công nghệ và huy động nguồn lực xã hội.

Một nội dung đáng chú ý là Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Theo lộ trình được Bộ Công Thương công bố tại Hội nghị toàn quốc tháng 8/2026, hồ sơ, cơ cấu quản trị và cơ chế tài chính của Quỹ đang được hoàn thiện, dự kiến trình Thủ tướng trong tháng 10/2026. Quỹ được định hướng hoạt động không vì lợi nhuận, tạo thêm công cụ huy động và hỗ trợ nguồn lực cho thị trường hiệu quả năng lượng.

Ở phía công nghệ, IoT, trí tuệ nhân tạo, hệ thống đo đếm và quản lý năng lượng theo thời gian thực đang tạo điều kiện để doanh nghiệp biết chính xác năng lượng được tiêu thụ ở đâu, phát hiện bất thường và lượng hóa hiệu quả đầu tư. Nhưng công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi phù hợp với quy mô, dây chuyền và khả năng tài chính của từng doanh nghiệp.

Vì vậy, lời giải không nằm ở một nguồn vốn hay một công nghệ riêng lẻ. Doanh nghiệp cần kiểm toán để xác định đúng điểm có khả năng tiết kiệm; đơn vị công nghệ phải lượng hóa hiệu quả; tổ chức tài chính cần có sản phẩm tín dụng phù hợp với dòng tiền của dự án; còn chính sách đóng vai trò giảm rủi ro và tạo động lực cho dòng vốn tham gia.

Khi đó, vốn cho tiết kiệm năng lượng không còn đơn thuần là khoản chi để “xanh hóa” nhà máy. Đó là khoản đầu tư có khả năng giảm chi phí dài hạn, đổi mới công nghệ và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong một thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về hiệu quả năng lượng và phát thải.

Hà Thanh

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/khoi-dong-von-cho-doanh-nghiep-tiet-kiem-nang-luong.html