Khởi nguồn từ những 'hạt giống niềm tin'
Trong dòng chảy lịch sử Việt Nam nửa thế kỷ qua, có hai mốc son mà mỗi lần nhắc tới đều ánh lên tinh thần dám nghĩ, dám làm. Đó là Khoán 100 (năm 1981) và Khoán 10 (năm 1988) trong lĩnh vực nông nghiệp. Ra đời trong những năm tháng vô cùng gian khó, hai chủ trương này đã tạo nên những 'điểm chạm' mang tính 'đột phá', mở lối để đất nước thoát khỏi khủng hoảng, từng bước đi vào quỹ đạo phát triển nhanh, mạnh và bền bỉ cho đến hôm nay.

Một “điểm chạm” mở lối Đổi mới từ nông nghiệp
Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói, “Đổi mới bắt đầu từ ruộng đồng”. Chính từ những cánh đồng mênh mông ấy đã làm nên những mùa vàng bội thu, góp phần tạo dựng những “mùa xuân Đổi mới”.
Cuối thập niên 1970, đầu những năm 1980, đất nước đứng trước những thử thách chưa từng có. Cơ chế quản lý tập trung bao cấp bộc lộ hàng loạt bất cập: Hợp tác xã sản xuất kém hiệu quả, cơ chế công điểm làm thui chột động lực lao động, mùa vụ bấp bênh, năng suất thấp, đời sống nông dân lâm vào cảnh khó khăn triền miên. Việt Nam khi đó vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, thậm chí có năm lên tới hơn 1 triệu tấn gạo.
Trong hoàn cảnh ấy, đổi thay là yêu cầu bức thiết, nhưng không thể là sự thay đổi nóng vội, càng không thể phá vỡ hệ thống khi chưa có đủ cơ sở thực tiễn. Đất nước cần một “điểm chạm” để thử nghiệm, nhằm đo đếm sức bật của động lực cá nhân trong khuôn khổ tập thể, đồng thời tìm ra lời giải căn cơ cho bài toán sinh kế của người nông dân.
Và rồi, từ thực tiễn ruộng đồng, những người lãnh đạo ở cơ sở đã dũng cảm đi trước, mạnh dạn tìm tòi những cách làm “xé rào”: Giao khoán ruộng đất cho nhóm hộ và hộ sản xuất ở Yên Thành (Nghệ An), Kiến Thụy (Hải Phòng), Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc). Chính từ những mô hình ấy, Trung ương tiến hành tổng kết, thể chế hóa bằng Chỉ thị số 100 ngày 13-1-1981, một dấu mốc của lịch sử nông nghiệp Việt Nam mà nông dân quen gọi là “khoán hộ”, “khoán 100”, coi đó như tín hiệu đầu tiên của tư duy đổi mới.
Khoán 100 thực hiện giao khoán sản phẩm đến nhóm hộ và tổ sản xuất; phần vượt khoán thuộc về người lao động. Dù vẫn nằm trong khuôn khổ kế hoạch hóa, song đây là lần đầu tiên Nhà nước chính thức thừa nhận và bảo hộ thành quả lao động vượt chỉ tiêu. Nói cách khác, khoán 100 đã chạm trúng “điểm nghẽn” của sản xuất nông nghiệp khi khơi dậy động lực của người nông dân, điều mà cơ chế công điểm trước đó không làm được.
Hiệu quả đến gần như tức thì. Ở nhiều vùng, nhất là tại Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), năng suất lúa tăng rõ rệt; những thửa ruộng kém từng bị bỏ hoang được khai thác trở lại. Lần đầu tiên sau nhiều năm, không ít nông dân cảm nhận trọn vẹn niềm vui “làm nhiều hưởng nhiều”, thay cho cảnh trông chờ vào những công điểm ít ỏi. Khoán 100 vì thế không chỉ mang lại kết quả kinh tế, mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ về tư duy, muốn phát triển, trước hết phải khơi dậy nội lực của người dân.
Quan trọng hơn, thành công của khoán hộ đã củng cố một niềm tin chính trị sâu sắc. Thực tiễn cho thấy, trao thêm quyền tự chủ cho nông dân không hề làm suy yếu tập thể, trái lại còn khiến hợp tác xã vận hành thực chất và hiệu quả hơn. Từ nền tảng ấy, tư duy đổi mới trong Đảng ngày càng vững chắc, mở đường cho những bước đi xa hơn trong tiến trình Đổi mới toàn diện của đất nước.
Khoán 10 đánh thức “bình minh Đổi mới”
Tháng 4-1988, Nghị quyết 10 ra đời - một quyết định được coi là đột phá lớn nhất trong cải cách nông nghiệp Việt Nam. Nếu khoán 100 mới chỉ là một “cú chạm” mang tính thử nghiệm, thì khoán 10 chính là cú “xoay trục” toàn diện, trao quyền tự chủ thực sự cho hộ nông dân: Giao đất ổn định lâu dài; hộ được toàn quyền lựa chọn giống, quyết định mùa vụ, tự hạch toán lời lỗ; xóa bỏ giao chỉ tiêu hiện vật; hợp tác xã chuyển sang vai trò cung ứng dịch vụ.
Từ đây, hộ nông dân chính thức trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lần đầu tiên, ruộng đồng, mồ hôi và trí tuệ của người nông dân được đặt vào đúng vị trí trung tâm của sản xuất nông nghiệp và động lực tăng trưởng.
Kết quả đến rất nhanh và hết sức rõ ràng. Năm 1988, Việt Nam vẫn còn trong tình trạng thiếu lương thực; sang năm 1989, đất nước đã bắt đầu xuất khẩu gạo, tạo nên một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử nông nghiệp. Thành công ấy có thể xem là thắng lợi đầu tiên, rực rỡ nhất của “bình minh Đổi mới”.
Khoán 10 không chỉ cứu sống nông nghiệp, mà còn tạo nền tảng ổn định xã hội, giúp đất nước đủ tự tin triển khai các cải cách sâu rộng tiếp theo: Đổi mới doanh nghiệp nhà nước, dỡ bỏ cơ chế tem phiếu, cải cách giá - lương - tiền, mở cửa thương mại... Có thể nói, thành công từ ruộng đồng đã đưa Việt Nam bước vào một chu kỳ phát triển mới, vững vàng và toàn diện hơn.
Nhìn lại từ hôm nay, có thể thấy rõ: Khoán 100 và khoán 10 không đơn thuần là hai văn bản kinh tế, mà là hai cú chuyển động mạnh mẽ của tư duy phát triển, đặt nền móng cho toàn bộ công cuộc Đổi mới của đất nước.
Thứ nhất, chạm tới bản chất của động lực con người: Khi người dân được “cởi trói”, được trao niềm tin và quyền tự chủ, họ luôn có khả năng tạo nên kỳ tích. Hai cơ chế khoán đã giải phóng sức sáng tạo của hàng chục triệu nông dân, những con người khi được tin cậy, luôn đáp lại bằng hiệu quả và cống hiến gấp nhiều lần.
Thứ hai, mở đường cho cải cách thể chế sâu rộng: Nếu không có những thành công từ ruộng đồng, sẽ khó hình thành sự đồng thuận và ủng hộ mạnh mẽ để tiến hành các thay đổi căn bản trong quản lý kinh tế, thương mại và tài chính ở những năm tiếp theo.
Thứ ba, tạo nên một “mùa xuân tâm thế” cho đất nước: Đó là mùa xuân của niềm tin mới, niềm tin rằng Việt Nam có thể tự đứng vững bằng nội lực của chính mình; rằng con đường Đổi mới đã lựa chọn là đúng đắn; và rằng mỗi người dân đều có thể trở thành chủ thể của phát triển. Chính giá trị tinh thần bền vững ấy đã làm nên ý nghĩa vượt thời gian của cơ chế khoán.
Gửi thông điệp cho nông nghiệp tương lai
Bài học từ khoán 100, khoán 10 đã trở thành dấu mốc mở đường cho nông nghiệp Việt Nam phát triển. Nếu khoán 100 - khoán hộ là sự khẳng định giá trị của niềm tin vào người dân, thì khoán 10 là bước hoàn thiện tư duy đổi mới, giải phóng sức sản xuất và tạo nền tảng cho nông nghiệp Việt Nam tiến tới No đủ - Làm giàu. Cơ chế “khoán” nhắc chúng ta rằng, trao quyền đúng chỗ, minh bạch cơ chế vận hành, giảm rào cản và khơi dậy sáng tạo sẽ tạo nên kỳ tích mới. Và giờ đây, rõ ràng điều cần thiết là không ngừng cải cách mạnh mẽ hơn về đất đai, hợp tác xã, tín dụng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số... để nông nghiệp Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển hiện đại - xanh - bền vững.
Xuân về, đi giữa những con phố Hà Nội rực rỡ sắc đào, quất, nhìn ra những cánh đồng xanh mướt dọc sông Hồng, ta càng thấm thía ý nghĩa của những quyết định lịch sử cách đây 40 năm. Những bó lúa trĩu hạt, những vùng chuyên canh hiện đại, những doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao hôm nay đều được gieo mầm từ “hạt giống niềm tin” giữa Dân với Đảng, Đảng với Dân. Chính niềm tin ấy đã làm nên những mùa xuân Đổi mới, đưa đất nước bước ra khỏi gian khó để tiến vào kỷ nguyên phát triển thịnh vượng, văn minh, hạnh phúc.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/khoi-nguon-tu-nhung-hat-giong-niem-tin-733972.html











