Khơi thông nguồn lực phát triển nông nghiệp từ dữ liệu dùng chung
Từ quản lý đất đai đến tổ chức sản xuất nông nghiệp và truy xuất nguồn gốc, việc chuẩn hóa, kết nối dữ liệu đang mở ra dư địa tiết giảm chi phí, nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư. Tuy nhiên, giá trị kinh tế chỉ được hiện thực hóa khi dữ liệu đủ chính xác, được cập nhật và khai thác thực chất.
Đồng bộ dữ liệu đất đai, nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực
Trao đổi với báo chí, ông Nguyễn Bảo Trung - Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) nhận định, dữ liệu là nền tảng quan trọng cho công tác chỉ đạo, điều hành. Tuy vậy, tình trạng thông tin phân tán, thiếu chuẩn thống nhất và cập nhật chậm vẫn khiến các cơ quan phải tổng hợp, đối chiếu nhiều lần; người dân, doanh nghiệp có thể phải nộp lặp lại giấy tờ. Vì thế, yêu cầu đặt ra là chuyển từ số hóa riêng lẻ sang chuẩn hóa, kết nối và khai thác trên hệ thống thống nhất.
Đất đai là lĩnh vực cho thấy rõ quy mô cũng như thách thức của quá trình xây dựng dữ liệu dùng chung. Tính đến ngày 15/9/2026, cả nước đã đồng bộ khoảng 68,3 triệu thửa đất lên hệ thống; trong đó 47,77 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”, còn khoảng 20,53 triệu thửa cần bổ sung, xác thực. Chênh lệch này phản ánh nhiệm vụ không chỉ là tăng số lượng hồ sơ số hóa mà còn phải bảo đảm chất lượng thông tin để phục vụ các giao dịch và quyết định kinh tế.
Tại Hà Nội, đến ngày 15/10, cơ sở dữ liệu đã ghi nhận hơn 4,8 triệu thửa đất, tương đương 99,6% tổng số thửa được xác lập trên bản đồ địa chính; gần 4,63 triệu thửa đã được đối khớp với dữ liệu dân cư. Khi thông tin được xác thực và kết nối, việc tra cứu, kiểm tra pháp lý và giải quyết thủ tục có cơ sở thuận lợi hơn, qua đó góp phần giảm rủi ro thông tin cho người dân và nhà đầu tư.
Ở Ninh Bình, việc hợp nhất dữ liệu hình thành qua nhiều giai đoạn đặt ra áp lực lớn về chuẩn hóa bản đồ và nền tảng kỹ thuật. Đến ngày 24/9, tỉnh đã xây dựng cơ sở dữ liệu cho hơn 2,32 triệu thửa, đạt gần 80%, trong đó hơn 1,92 triệu thửa đạt tiêu chí chất lượng. Địa phương hỗ trợ 194,4 tỷ đồng cho 57 dự án đo đạc, hoàn thiện hồ sơ địa chính tại 33 xã, phường. Khoản đầu tư này cho thấy việc xây dựng nền tảng số cần gắn với chất lượng hồ sơ gốc, tránh phát sinh chi phí sửa chữa, làm lại về sau.
Theo ông Nguyễn Bảo Trung, chuẩn hóa dữ liệu từng lĩnh vực mới là bước đầu; giá trị lớn hơn nằm ở khả năng liên thông. Dữ liệu đất đai cần kết nối với quy hoạch, xây dựng, thuế và dân cư; dữ liệu sản xuất cần gắn với vùng trồng, vùng nuôi, thủy lợi và thị trường. Bộ NN&MT đã hoàn thành kết nối 12 cơ sở dữ liệu trọng điểm với Trung tâm Dữ liệu quốc gia, trên cơ sở rà soát hơn 62,2 triệu thửa đất và đối soát hơn 82.000 tàu cá.
Ở góc độ kinh tế, kết nối thông tin có thể hạn chế đầu tư trùng lặp giữa các sở, ngành, đồng thời giảm công sức đối chiếu hồ sơ. Tuy nhiên, lợi ích này chỉ có thể đo lường đầy đủ khi địa phương theo dõi được thời gian giải quyết thủ tục, chi phí vận hành hệ thống và mức độ tái sử dụng dữ liệu trong thực tế.
Dữ liệu sản xuất và truy xuất nguồn gốc tạo lợi thế thị trường
Không chỉ phục vụ quản lý đất đai, dữ liệu dùng chung còn có khả năng hỗ trợ tổ chức sản xuất theo điều kiện tài nguyên và nhu cầu thị trường. Khi thông tin về đất, nước, khí hậu, hạ tầng và tiêu thụ được đặt trên cùng nền tảng, địa phương có thể đánh giá mức độ phù hợp của vùng sản xuất, hướng dẫn chuyển đổi cây trồng và chủ động phòng ngừa rủi ro thiên tai, dịch bệnh.

Ông Nguyễn Bảo Trung - Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). (Ảnh: PV)
Ở khâu thị trường, minh bạch nguồn gốc ngày càng có ý nghĩa với năng lực cạnh tranh của nông sản. Khi hệ thống truy xuất nguồn gốc chính thức vận hành ngày 30/6/2026, đã có hơn 18.500 sản phẩm thuộc 181 nhóm, với 170 doanh nghiệp tại 24 tỉnh, thành phố tham gia. Trong giai đoạn thí điểm, sáu container sầu riêng được xuất khẩu thành công sang Trung Quốc thông qua hệ thống truy xuất điện tử. Đây là bước triển khai cụ thể cho việc kết nối thông tin từ sản xuất đến lưu thông, đáp ứng yêu cầu kiểm soát của thị trường.
Ông Nguyễn Bảo Trung cho rằng hiệu quả chuyển đổi số không nên chỉ được đánh giá qua số lượng hồ sơ đã số hóa hoặc số hệ thống được xây dựng, mà phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề cụ thể trong quản lý và sản xuất. Cách tiếp cận này đòi hỏi mỗi cơ sở dữ liệu có đơn vị chịu trách nhiệm, quy trình cập nhật thường xuyên và phương án khai thác rõ ràng.
Về dài hạn, địa phương cần ưu tiên chuẩn dữ liệu thống nhất, cơ chế chia sẻ theo thẩm quyền và đào tạo cán bộ có khả năng phân tích thông tin. Việc kết nối phải song hành với phân quyền truy cập, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu kinh doanh. Quan trọng hơn, các dự án số cần được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng ngân sách, mức giảm thủ tục và lợi ích thực tế cho sản xuất, kinh doanh. Dữ liệu chỉ trở thành nguồn lực phát triển khi được sử dụng để ra quyết định tốt hơn. Từ những thửa đất được xác thực đến lô hàng nông sản có thể truy xuất, một hệ thống thông tin liên thông, đáng tin cậy sẽ góp phần hình thành môi trường đầu tư minh bạch, nâng năng suất quản trị và mở rộng dư địa tăng trưởng cho kinh tế địa phương.
