Không có “vùng miễn trừ” phạm pháp
Từ ngày 1/9/2026, Nghị quyết số 37/2026/QH16 của Quốc hội (Nghị quyết 37) chính thức có hiệu lực, quy định cơ chế, chính sách đặc thù về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Ngay sau đó, cùng với những phân tích về chính sách mới, đã xuất hiện những cách diễn giải trái chiều, cố tình xuyên tạc nội dung Nghị quyết của các tổ chức, cá nhân phản động, chống đối ở hải ngoại, trong đó có nhận định cho rằng Nghị quyết tạo ra một “khoảng trống pháp lý” và tình trạng “Công an vừa đá bóng vừa thổi còi”. Đối chiếu với các quy định của Nghị quyết cho thấy, cần nhìn nhận vấn đề trên cơ sở đầy đủ, khách quan, tránh những cách hiểu phiến diện.
Yêu cầu từ thực tiễn
Nghị quyết 37 ra đời trước hết từ một yêu cầu của thực tiễn. Trong hoạt động kinh tế, đầu tư, sản xuất, kinh doanh cũng như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, không phải mọi vi phạm gây thiệt hại đều xuất phát từ động cơ vụ lợi.
Có những trường hợp người thực hiện vì lợi ích chung nhưng gặp phải quy định pháp luật chưa đầy đủ, chồng chéo hoặc chưa theo kịp những vấn đề mới phát sinh.
Nếu không phân định rõ những trường hợp này với hành vi tham nhũng, cố ý trục lợi, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm có thể trở thành lực cản đối với phát triển.
Đặc biệt, trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, yếu tố mới và rủi ro luôn hiện hữu; không thể đòi hỏi mọi kết quả đều được dự liệu hoàn toàn từ trước.
Nghị quyết 37 vì thế xác lập cơ chế đặc thù để xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích chung, đồng thời đặt ra điều kiện để phân biệt với hành vi tham nhũng, vụ lợi.
Theo Điều 4, “vì lợi ích chung” là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, ngành, lĩnh vực, địa phương; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh nhưng không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi.
Đáng chú ý, không thể chỉ dựa vào một lý do “vì lợi ích chung” để loại trừ trách nhiệm. Theo Điều 5, cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: Không tham nhũng; vì lợi ích chung; hoạt động đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết dứt điểm nếu có; không gây thất thoát, lãng phí tài sản hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại.
Nghị quyết cũng quy định “không tham nhũng” phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác kết luận bằng văn bản. Như vậy, đây không phải là một sự miễn trừ mặc nhiên, càng không phải cơ chế để hợp thức hóa sai phạm.
Vấn đề cốt lõi mà Nghị quyết đặt ra là phân định đúng giữa rủi ro trong hoạt động vì lợi ích chung và hành vi vụ lợi.
Khuyến khích đổi mới không đồng nghĩa với chấp nhận mọi sai phạm nhân danh đổi mới; bảo vệ người dám nghĩ, dám làm không đồng nghĩa với buông lỏng kỷ luật.
Gỡ rào cản cho phát triển
Những cách diễn giải về Nghị quyết 37 cần được đối chiếu với chính văn bản. Trong bài viết ngày 15/9/2026, Thoibao.de cho rằng Nghị quyết khiến Bộ Công an “vừa đá bóng vừa thổi còi”, đồng thời cho rằng văn bản tạo ra một “khoảng trống pháp lý”. Bài viết còn cho rằng việc xác định động cơ và kết luận thiệt hại được giao cho Bộ Công an.
Tuy nhiên, đối chiếu với Điều 9 của Nghị quyết cho thấy, thẩm quyền xử lý được phân định theo từng giai đoạn tố tụng. Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố khi đủ căn cứ.
Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra có thẩm quyền đình chỉ điều tra; ở giai đoạn truy tố, xét xử, Viện kiểm sát và Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án theo thẩm quyền.
Với trường hợp tạm đình chỉ, thẩm quyền cũng được phân định tương ứng giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.

Luận điệu xuyên tạc của Thoibao.de.
Ngay việc xác định “không tham nhũng” cũng không được đặt như quyền quyết định riêng của một cơ quan. Điều 4 quy định nội dung này phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác kết luận bằng văn bản theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, từ nội dung Nghị quyết để kết luận một cơ quan được trao quyền “vừa đá bóng vừa thổi còi” là đã bỏ qua sự phân định thẩm quyền được quy định ngay trong văn bản.
Tương tự, cụm từ “khoảng trống pháp lý” cũng cần được đặt đúng bối cảnh. Nghị quyết 37 dự liệu cả những trường hợp pháp luật chưa điều chỉnh hoặc còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Nhưng việc nhận diện những bất cập đó để xây dựng cơ chế xử lý đặc thù không đồng nghĩa với việc tạo ra một khoảng trống để hành vi vi phạm được bỏ qua.
Điều 6 quy định, người gây thiệt hại do rủi ro trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự nếu đã tuân thủ đúng quy trình, quy định và áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa.
Với trường hợp pháp luật chưa điều chỉnh hoặc có quy định mâu thuẫn, chồng chéo, người thực hiện còn phải đáp ứng các điều kiện như không tham nhũng, vì lợi ích chung và hoạt động đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
Điểm cốt lõi là: Rủi ro được chấp nhận không đồng nghĩa với sai phạm được miễn trừ. Ngay Điều 3 của Nghị quyết xác định phải tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; đồng thời yêu cầu xử lý nghiêm hành vi lợi dụng Nghị quyết để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che vi phạm.
Nghị quyết cũng không mở ra một cơ chế vô thời hạn. Theo Điều 12, Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/9/2026 và được thực hiện trong thời hạn 3 năm.
Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội định kỳ hằng năm và tổng kết khi kết thúc; Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng nhân dân các cấp và các chủ thể có thẩm quyền thực hiện giám sát.
Tất nhiên, khi đi vào cuộc sống, những tiêu chí như “vì lợi ích chung”, “hiệu quả kinh tế - xã hội” hay ranh giới giữa rủi ro đổi mới và vi phạm pháp luật đòi hỏi phải được áp dụng khách quan, minh bạch, thận trọng.
Đây là những vấn đề cần tiếp tục được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Nhưng từ yêu cầu kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hiện đến việc khẳng định Nghị quyết tạo ra một “vùng miễn trừ” là hai vấn đề khác nhau.
Đọc đầy đủ các quy định cho thấy Nghị quyết 37 hướng tới tháo gỡ những điểm nghẽn pháp lý, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, đồng thời giữ vững ranh giới đối với tham nhũng, vụ lợi, lãng phí và bao che vi phạm.
Không có “vùng miễn trừ” cho hành vi phạm pháp. Điều Nghị quyết 37 hướng tới là không để nỗi sợ trách nhiệm trở thành rào cản đối với phát triển, nhưng cũng không để danh nghĩa phát triển trở thành tấm lá chắn cho sai phạm.
Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/khong-co-vung-mien-tru-pham-phap-261458.htm
