Kinh Bắc - Miền trầm tích của văn hóa Việt

Kinh Bắc - nghe như tiếng gọi từ tầng sâu ký ức. Không chỉ là địa danh, Kinh Bắc là một biểu tượng văn hóa, một miền trầm tích của lịch sử, của phong tục, của tinh hoa Việt. Tên gọi ấy gợi ra một vùng khí thiêng phía Bắc kinh thành Thăng Long, nơi đất và người đã sớm kết tinh thành văn hiến.

Ngày xưa, vùng này từng được gọi là đất Vũ Ninh, rồi đạo Kinh Bắc. Vũ Ninh - chữ nghĩa của người xưa - mang bóng dáng một miền văn võ song toàn, thanh bình và hưng thịnh. Đạo Kinh Bắc là cách gọi hành chính cổ, chỉ một vùng rộng gồm Bắc Ninh, Bắc Giang và một phần phụ cận, nằm ở phía Bắc kinh đô. Chữ “đạo” ở đây không chỉ là địa giới, mà còn là con đường văn hóa, là cõi đạo lý, nơi phát tích của lễ nhạc, khoa cử, nếp sống nông nghiệp châu thổ.

 Đón bạn ngày xuân. Ảnh: Đào Trung.

Đón bạn ngày xuân. Ảnh: Đào Trung.

Lịch sử tách - nhập đổi thay, ranh giới hành chính co giãn theo thời cuộc, nhưng cái tên Kinh Bắc vẫn ở lại như một tầng địa văn hóa bền vững. Nó là nếp nghĩ, cách sống, gương mặt của làng quê cổ truyền, là tiếng hát bên sông, mùi rạ rơm, sắc lễ hội và bước chân khoa bảng. Ở nghĩa sâu, Kinh Bắc là một “vùng hồn” của dân tộc: Nơi người Việt nhìn thấy mình trong căn cốt hiền hòa mà kiên cường, đẹp đẽ mà đằm thắm.

Địa linh - nhân kiệt: Nguồn khí cho văn hiến

Từ cổ đại, vùng Kinh Bắc đã là địa bàn trọng yếu. Dưới thời Hùng Vương, đây là bộ Vũ Ninh của Văn Lang. Thời Hán thuộc huyện Long Biên, quận Giao Chỉ. Thời Lý - Trần, vùng này là đạo Bắc Giang; đến thời Lê đã hình thành đạo Kinh Bắc. Sự tiếp nối ấy cho thấy Kinh Bắc luôn đứng ở nơi tụ khí của nước Việt - vừa là cửa ngõ Thăng Long, vừa là phên giậu phương Bắc, vừa là miền dân cư sớm định hình. Đất đai màu mỡ, sông ngòi ôm ấp, phù sa bồi đắp, tạo nên nền “địa linh”.

Kinh Bắc có sông Cầu lững lờ chảy, đằm mình giữa đôi bờ quan họ; có sông Thương uốn quanh đất Lạng Giang. Sông là mạch, đất là gốc, người là hồn. Một không gian vừa đồng bằng vừa trung du, nơi mềm của nước và chắc của đất đỡ lấy nhau; nơi tĩnh của làng và động của chợ hòa vào nhau. Trên dải đất ấy, người Kinh Bắc đã sớm dựng làng, mở chợ, khai khẩn ruộng đồng, trồng dâu nuôi tằm, đắp đê giữ lúa; đồng thời dựng trường dạy chữ, thắp đèn học hành, nuôi chí khoa bảng. Bởi vậy Kinh Bắc luôn toát lên một khí chất riêng: Thông minh; trọng nghĩa, nghĩa tình, trọng đạo, trong lý và biết trân quý cái đẹp.

Văn minh nông nghiệp - làng xã: Cái gốc của bản sắc

Mạch văn hóa Kinh Bắc bắt nguồn từ văn minh nông nghiệp lúa nước. Làng xã là cấu trúc cốt lõi liên kết người với đất, người với người. Đình làng là “nhà của cộng đồng”, nơi giữ hương ước, giữ lễ nghĩa, giữ tinh thần đoàn kết. Chùa là “nhà của lòng người”, nơi gieo từ bi, thanh lọc tâm tính, nâng đỡ đời sống tinh thần. Chợ là “nhịp thở của sinh kế”, nơi trao đổi hàng hóa, kết nối cư dân, gieo mầm cho nếp sống thương - nông giao hòa. Trong một không gian như thế, đời sống Kinh Bắc kết thành trật tự văn hóa rất Việt: Sống có làng, thờ có tổ, vui có hội, học có thầy, hát có bạn.

Phong tục Kinh Bắc đằm thắm, tinh tế. Nếp Tết - lễ - hội vừa trang nghiêm vừa rộn ràng. Từ mâm cỗ đầu năm đến tiếng trống hội, từ lễ tế thành hoàng đến rước nước, rước sắc, rước thần, từ tục thờ Tứ Pháp ở vùng Luy Lâu đến nếp thờ tổ tiên trong từng họ mạc - tất cả tạo nên một “lịch thiêng” của làng xã. Người Kinh Bắc nhờ đó mà giàu ý thức cội nguồn, giàu lòng biết ơn và có một bản lĩnh văn hóa bền chặt trước biến thiên thời đại. Hồn làng không chỉ ở mái đình mà ở cách người ta sống với nhau: Trọng nghĩa, trọng tình, trọng lễ nhưng không nặng bó buộc; nghiêm mà vẫn mềm; cổ kính mà vẫn chan hòa.

Cõi đạo Kinh Bắc: Tam giáo đồng nguyên - minh triết sống

Kinh Bắc còn là một cõi đạo. Nơi đây, tam giáo đồng nguyên hòa vào nhau như ba dòng nước cùng chảy về một mạch. Nho giáo thắp sáng nếp học và lễ nghĩa, tạo nên truyền thống khoa bảng và kỷ cương làng xã. Phật giáo đến sớm, bắt rễ sâu từ trung tâm Luy Lâu và các cổ tự như chùa Dâu, chùa Tổ, làm nên một đời sống tâm linh từ bi, khoan hòa.

Trong không gian ấy, tiếng chuông chùa ngân cùng câu hát; lời dạy của bậc hiền triết vọng với khí phách của anh hùng. Người Kinh Bắc học để hành, tu để sáng, sống để hiến. Lấy hòa làm gốc, lấy trí làm đường, lấy tình làm mạch. Vì thế, Kinh Bắc không chỉ lưu dấu trong sử ký, mà còn sống trong tâm thức Việt như một miền Đạo của văn hóa dân tộc.

Văn hiến - danh nhân: Dòng chảy hiếu học

Nhắc đến Kinh Bắc là nhắc tới đất học. Truyền thống hiếu học nơi đây không chỉ là thói quen, mà là cốt cách. “Một người đi thi cả làng đèn sách” - câu nói ấy không phải ngẫu hứng. Từ làng lên tỉnh, từ tỉnh ra kinh sư, lớp lớp nho sinh Kinh Bắc đã góp phần làm rạng rỡ nền khoa cử nước nhà. Những làng nổi tiếng học hành như Mão Điền, Tam Sơn, Đình Bảng, Đông Cứu… là những “ổ tri thức dân gian” của đồng bằng Bắc Bộ.

Từ vùng đất này đã sinh ra bao bậc hiền tài: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lê Văn Thịnh, Thân Nhân Trung… và nhiều danh sĩ, danh tướng khác. Ở họ, ta thấy một mạch chung: Học để dựng nước, học để giữ nước, học để làm người. Văn hiến Kinh Bắc vì vậy không phải là trang vàng khép lại, mà là dòng chảy mở ra - nuôi dưỡng tinh thần Việt trong mỗi thời đại. Người Kinh Bắc đi đâu cũng mang theo nếp học, nếp lễ, nếp sống thanh lịch mà nghĩa tình. Đó là “tài sản vô hình” quý giá nhất của vùng đất này.

Nghệ thuật dân gian - làng nghề - ẩm thực: Hồn vía Kinh Bắc

Kinh Bắc là miền nghệ thuật. Dân ca quan họ trước hết là tiếng nói của tình người và đạo sống: Trọng bạn, trọng nghĩa, trọng cái đẹp. Lời quan họ mềm như nước sông Cầu, đằm như đất bãi, tinh như mùi trầu mới. Những canh hát giao duyên không chỉ để vui, mà để rèn nếp ứng xử: Mời trầu, mời nước, xưng hô, đối đáp - đều là một thứ “lễ nhạc đời thường”. Cùng với quan họ, vùng này còn lưu giữ nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác: Ca trù, hát cửa đình, hát thờ, múa rối, trò diễn lễ hội…

 Phơi bánh đa nem tại làng nghề truyền thống Thổ Hà (phường Vân Hà). Ảnh: Tiến Đạt.

Phơi bánh đa nem tại làng nghề truyền thống Thổ Hà (phường Vân Hà). Ảnh: Tiến Đạt.

Làng nghề Kinh Bắc là nơi trí tuệ hóa thành sản phẩm. Gốm Phù Lãng bền lửa; đồng Đại Bái vang tiếng; tranh Đông Hồ rực sắc dân gian; sơn mài Tương Giang tinh tế; nghề mộc, nghề nề, nghề làm giấy, nghề trồng dâu nuôi tằm… làm nên diện mạo vật thể đặc biệt của vùng văn hóa này. Mỗi làng nghề là một trường học của bàn tay và tâm tính: Cần cù, khéo léo, bền bỉ mà thanh nhã.

Ẩm thực Kinh Bắc giản dị mà sâu. Bánh phu thê Đình Bảng tượng trưng cho nghĩa vợ chồng thủy chung; nem làng Bùi, bánh tẻ, tương, bánh đa làng Kế… và rượu làng Vân - một thứ men quê chan chứa tình người. Mùi rượu không chỉ là men gạo, mà là men nắng, men gió, men lao động. Nó đi cùng hội làng, đi cùng câu hát, đi cùng lễ nghĩa. Ẩm thực ở Kinh Bắc là văn hóa đãi khách: Nhẩn nha, nghĩa tình, không phô trương mà thấm sâu.

Nghệ nhân Kinh Bắc vừa giữ nếp cổ, vừa khẽ mở đường mới, để truyền thống không chỉ là ký ức mà là nguồn sinh khí. Mỗi bức tranh Đông Hồ, mỗi câu quan họ, mỗi lò gốm rực lửa… là một tiếng vọng của mạch nguồn.

Liền mạch văn hóa Bắc Ninh, Bắc Giang: Hai bờ cùng một dòng

Nói Kinh Bắc không thể chỉ nhìn một tỉnh, một bờ. Bắc Ninh và Bắc Giang hôm nay xét đến cùng vẫn là hai bờ của một dòng văn hóa. Sông Cầu vừa là ranh giới hành chính, vừa là cây cầu giao duyên. Quan họ có làng gốc ở cả bờ Bắc và Nam sông Cầu. Lề lối kết bạn, canh hát, mời trầu, đối đáp - cùng một nếp. Một dòng dân ca, hai bờ đồng vọng, khiến người nghe cảm thấy Kinh Bắc như một “vòm trời chung” của tình người.

Hệ lễ hội cũng tương thông. Bắc Ninh có hội Lim, hội làng Diềm, hội Dâu - Tứ Pháp; Bắc Giang có những hội làng ven sông Cầu, hội Thổ Hà - Vân Hà, hội Suối Mỡ, không gian Yên Tử - Vĩnh Nghiêm. Cách mở hội, rước nước, tế thần, hát thờ, vui Tết - đều chung nhịp mùa vụ và chung tâm thức làng xã. Lễ hội trở thành lịch văn hóa chung, nơi người Kinh Bắc dù ở bờ nào cũng gặp nhau trong một tiếng trống, một mâm cỗ, một lời khấn tổ.

Làng nghề và chợ quê nối liền qua những dòng sông. Sông Cầu, sông Thương là đường giao thương xưa: Gốm, giấy, nông sản, hàng thủ công. Phù Lãng bên Bắc Ninh và Thổ Hà bên Bắc Giang đều là những làng gốm của sông, cùng một chất đất, cùng một lửa nghề, mỗi nơi một sắc thái mà bổ sung nhau. Sản vật, ẩm thực cũng là những “dấu nối” tự nhiên: Đồng bằng bên Bắc Ninh cho lúa gạo, bánh trái, men rượu; trung du bên Bắc Giang cho cây trái, mỳ gạo, gà đồi… Tất cả gặp nhau ở chợ, ở hội, ở mâm cơm đầu năm, ở câu hát giao duyên. Bởi vậy, Kinh Bắc là một mạch nguồn chung, chứ không chỉ là một đường biên.

Từ mạch nguồn đến tương lai: Giữ nguồn - mở lối

Trên nền văn hóa Kinh Bắc, hôm nay chúng ta đứng ở ngã ba thời đại: Truyền thống và hiện đại, bản sắc và hội nhập. Vùng đất Kinh Bắc vẫn là một “vị trí địa linh” nhưng cần thêm “khí triết” để thích ứng: Giữ nguồn mà không khép, đổi mới mà không rời gốc. Nếu biết dựa vào mạch sâu văn hiến, ta sẽ không lạc đường trong hiện đại; nếu biết thắp sáng minh triết cha ông, ta sẽ không yếu mềm trước sóng lớn thời cuộc.

Có thể nhìn Kinh Bắc như một mẫu hình văn hóa bền vững: Nơi khoa học gặp minh triết, nơi kinh tế gặp nhân văn, nơi sáng tạo gặp truyền thống. Mỗi mùa xuân về, khi hoa đào hé nụ, khi làn gió chạm mái đình, ta không chỉ “về nhà” mà “về nguồn” - về mạch văn hóa Kinh Bắc để tái khởi, để sáng tạo và để đi xa hơn.

Kinh Bắc, vì thế, không chỉ là địa danh. Đó là đất của tinh hoa, là nguồn khí của trí tuệ, là gốc rễ của bản sắc. Khi ta mang tinh thần ấy vào đời sống hôm nay, Kinh Bắc tiếp tục là mạch nguồn không cạn của văn hóa Việt - nó đã chảy, đang chảy và sẽ chảy mãi.

Nguyễn Trọng Đàn

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/kinh-bac-mien-tram-tich-cua-van-hoa-viet-postid438235.bbg