Kinh nghiệm số hóa nông nghiệp của Trung Quốc
Trung Quốc đang đẩy mạnh hiện đại hóa nông nghiệp bằng công nghệ cao, số hóa và tự động hóa, từng bước chuyển phương thức sản xuất từ dựa nhiều vào kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu, công nghệ và quản lý thông minh.

Mô hình ươm tạo giống cây trồng thông minh tại Khu khoa học công nghệ nông nghiệp quốc gia Kiến Tam Giang, tỉnh Hắc Long Giang. Ảnh: Công Tuyên/PV TTXVN tại Trung Quốc
Theo phóng viên TTXVN tại Trung Quốc, Khu Trình diễn khoa học-công nghệ lúa nước Vạn Mẫu tại thành phố Phú Cẩm, tỉnh Hắc Long Giang, là một trong những mô hình cho thấy rõ xu hướng này. Khu trình diễn có tổng diện tích khoảng 2.667 ha, trong đó khu trọng điểm rộng khoảng 724 ha, được xây dựng theo mô hình sản xuất lúa nước thông minh tại vùng đất lạnh thuộc đồng bằng Tam Giang.
Khu trình diễn kết hợp nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao kỹ thuật và đào tạo nông dân, qua đó đưa công nghệ mới vào sản xuất thực tế. Số hóa được triển khai ở nhiều khâu, từ theo dõi điều kiện tự nhiên đến quản lý cây trồng. Thông qua hệ thống cảm biến, trạm khí tượng và thiết bị giám sát, các dữ liệu về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, tích nhiệt và tình trạng sinh trưởng của cây trồng được thu thập, phân tích. Những dữ liệu này giúp xác định phương án quản lý phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cây lúa.
Chia sẻ với phóng viên TTXVN tại Trung Quốc, ông Trương Vũ (Zhang Yu), Giám đốc Trung tâm Khuyến nông kỹ thuật nông nghiệp thành phố Phú Cẩm, cho biết đơn vị kết hợp công nghệ số với sản xuất quy mô lớn và quản lý tập trung nhằm giảm chi phí trồng lúa. Theo ông, đơn vị sử dụng dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet di động cùng các thiết bị tại đồng ruộng để theo dõi tình trạng sinh trưởng của cây trồng. Dữ liệu viễn thám vệ tinh, thiết bị bay không người lái và thiết bị mặt đất cũng được kết hợp để thu thập thông tin, hỗ trợ chuyên gia đưa ra hướng dẫn sản xuất.
Bên cạnh số hóa, trung tâm áp dụng các kỹ thuật nông nghiệp hiện đại như kiểm soát sinh vật gây hại theo hướng xanh và phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Các khu thử nghiệm, trình diễn cũng trở thành cơ sở đào tạo, giúp nông dân tiếp cận kỹ thuật và phương thức sản xuất mới.
Cùng với số hóa, Hắc Long Giang đang đẩy mạnh cơ giới hóa và tự động hóa nhằm giảm phụ thuộc vào lao động thủ công. Tại các vùng sản xuất lúa quy mô lớn, máy móc tích hợp hệ thống định vị Bắc Đẩu được sử dụng trong gieo trồng, trong khi thiết bị bay không người lái đảm nhiệm một số công đoạn như bón phân và bảo vệ thực vật.
Việc kết hợp dữ liệu viễn thám vệ tinh, cảm biến mặt đất và dữ liệu thu thập từ trên không cũng được triển khai để theo dõi sinh trưởng cây trồng, qua đó nâng cao khả năng quản lý sản xuất trên diện rộng.
Tại Nông trường Thất Tinh, quá trình sản xuất đang chuyển từ cơ giới hóa sang tự động hóa và không người lái. Ông Lưu Kiến Quốc (Liu Jianguo), cán bộ phụ trách cao cấp về nông nghiệp thông minh và máy móc nông nghiệp của nông trường, cho biết nếu trước đây nhiều công đoạn phải thực hiện bằng sức người, hiện nay các khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch đã được cơ giới hóa và từng bước ứng dụng công nghệ thông minh, tự động, không người lái.
Theo ông, máy gặt không người lái có thể thay thế một phần thao tác của người vận hành, giúp giảm cường độ lao động và chi phí sản xuất, đồng thời nâng cao độ chính xác trong canh tác.
Thực tế tại Hắc Long Giang cho thấy công nghệ đang được đưa vào một chuỗi sản xuất tương đối hoàn chỉnh, thay vì chỉ được áp dụng ở từng công đoạn riêng lẻ. Dữ liệu thu thập từ đồng ruộng được phân tích để hỗ trợ quyết định, sau đó chuyển thành hoạt động cụ thể thông qua máy móc, thiết bị và hệ thống quản lý.
Trung Quốc cũng chú trọng xây dựng các khu trình diễn để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất. Tại Phú Cẩm, các khu thử nghiệm, trình diễn giống lúa và công nghệ mới được kết hợp với hoạt động đào tạo kỹ thuật cho nông dân. Mô hình này tạo điều kiện kiểm chứng hiệu quả công nghệ trong thực tế trước khi mở rộng ứng dụng.
Cách làm trên cho thấy hiện đại hóa nông nghiệp không chỉ tập trung vào việc đưa máy móc mới vào đồng ruộng mà còn hình thành hệ thống sản xuất dựa trên dữ liệu, tiêu chuẩn hóa quy trình và quản lý tập trung.
Đối với những vùng sản xuất lương thực quy mô lớn, công nghệ số giúp tăng khả năng giám sát trên diện rộng, trong khi máy móc tự động và không người lái góp phần giảm phụ thuộc vào lao động thủ công. Đặc biệt, tại vùng Đông Bắc có khí hậu lạnh, việc ứng dụng cảm biến, viễn thám, trí tuệ nhân tạo và thiết bị nông nghiệp thông minh đang mở rộng khả năng theo dõi, phân tích và điều chỉnh hoạt động sản xuất.
Từ kinh nghiệm tại Hắc Long Giang có thể thấy nông nghiệp Trung Quốc đang chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào kinh nghiệm và lao động thủ công sang mô hình dựa trên dữ liệu, công nghệ và quản lý thông minh. Quá trình này gắn cơ giới hóa với số hóa, tự động hóa và tiêu chuẩn hóa, hướng tới sử dụng hiệu quả hơn đất đai, lao động và các nguồn lực nông nghiệp.

