Kinh tế chăm sóc - mở thêm cơ hội cho phụ nữ

Chăm sóc thường được nhìn như công việc diễn ra trong gia đình, phần lớn do phụ nữ đảm nhận và ít được tính đến trong các chỉ số kinh tế. Nhưng khi dân số già hóa, mức sinh giảm, mô hình gia đình thay đổi, nhu cầu chăm sóc ngày càng lớn, điều này đang trở thành một vấn đề của xã hội. Phát triển kinh tế chăm sóc vì thế không chỉ nhằm chia sẻ gánh nặng với phụ nữ mà còn có thể mở ra không gian việc làm mới, có giá trị kinh tế và xã hội.

Chăm sóc không còn là việc trong mỗi gia đình

“Chăm sóc” không chỉ là việc một người mẹ trông con hay một thành viên trong gia đình chăm sóc cha mẹ già. Khái niệm này bao trùm nhiều hoạt động cần thiết để con người duy trì cuộc sống và phát triển, từ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em; hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật; chăm sóc sức khỏe; việc nhà và những công việc chăm sóc không được trả công trong gia đình, đến các dịch vụ chăm sóc được cung cấp bởi Nhà nước, thị trường và cộng đồng.

Phụ nữ đang đóng góp phần lớn vào công việc chăm sóc trong gia đình và các dịch vụ chăm sóc có trả công. Ảnh: Dưỡng lão Diên Hồng

Phụ nữ đang đóng góp phần lớn vào công việc chăm sóc trong gia đình và các dịch vụ chăm sóc có trả công. Ảnh: Dưỡng lão Diên Hồng

Khi những hoạt động đó được nhìn nhận như một hệ thống, “kinh tế chăm sóc” cũng có phạm vi rộng hơn nhiều so với một nhóm dịch vụ xã hội. Đó là toàn bộ các chính sách, hạ tầng, dịch vụ và lực lượng lao động tham gia đáp ứng nhu cầu chăm sóc, bao gồm cả phần việc không được trả công trong gia đình và phần việc được trả công trên thị trường. Theo bà Nguyễn Thị Bích Thúy, Tư vấn quốc gia của Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women Việt Nam), đó còn là việc kết nối chính sách chăm sóc, hạ tầng chăm sóc và dịch vụ chăm sóc thành một hệ thống thống nhất, đồng thời gắn hệ thống này với quyền năng kinh tế của phụ nữ.

Thực tế, nhu cầu chăm sóc tại Việt Nam đang thay đổi nhanh. Theo số liệu dân số năm 2024 của Cục Thống kê, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam ở mức 1,91 con/phụ nữ; người từ 65 tuổi trở lên chiếm 9,3% dân số. Cùng năm, 12,1% hộ gia đình là hộ một người và 58,6% trong số những hộ này do phụ nữ làm chủ. Những thay đổi về mức sinh, già hóa và cấu trúc hộ gia đình đang khiến khả năng dựa hoàn toàn vào gia đình để đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng hạn chế.

Đây cũng là lúc khái niệm “nghèo thời gian” cần được nhìn như một vấn đề kinh tế chứ không chỉ là gánh nặng của riêng phụ nữ. Khi một người phải dành quá nhiều thời gian cho việc chăm sóc không được trả công, họ có ít thời gian hơn để học tập, làm việc, nâng cao kỹ năng hay tham gia các hoạt động tạo thu nhập. Bà Feroza Sanjana, chuyên gia UN Women, cho rằng trách nhiệm chăm sóc đang là một trong những rào cản cơ cấu đối với quyền năng kinh tế của phụ nữ tại các nền kinh tế APEC.

Ở Việt Nam, rào cản ấy tạo ra những khoảng cách khá rõ. Tại “Hội thảo về Nâng cao quyền năng cho phụ nữ trong nền kinh tế chăm sóc” do Bộ Nội vụ phối hợp với UN Women và Đại sứ quán Australia tại Việt Nam tổ chức ngày 8-10, các chuyên gia chỉ ra, phụ nữ dành trung bình 15,5 giờ mỗi tuần cho công việc chăm sóc không được trả công, trong khi con số này ở nam giới là 8,75 giờ. Giá trị của phần việc chăm sóc không được trả công được ước tính có thể tương đương tới 20% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chăm sóc trẻ em về cơ bản là trách nhiệm của phụ nữ vẫn là quan niệm phổ biến. “Nghèo thời gian” không đơn thuần là thiếu thời gian nghỉ ngơi, mà đã trở thành bất lợi kéo dài với phụ nữ.

Đưa chăm sóc trở thành hạ tầng kinh tế

Khoảng trống về dịch vụ chăm sóc đang tác động trực tiếp đến khả năng tham gia thị trường lao động của phụ nữ. Phân tích của Ngân hàng Thế giới về chăm sóc trẻ em tại Việt Nam cho hay, Việt Nam có khoảng 560.000 trẻ em dưới 6 tuổi có cha hoặc mẹ làm việc tại các khu công nghiệp. Có tới 75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi cho biết sẽ sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ được cấp phép nếu dịch vụ có chất lượng tốt và mức giá phù hợp. Tuy nhiên, chỉ 23% cơ sở giáo dục mầm non công lập cung cấp dịch vụ cho trẻ dưới 2 tuổi. Rõ ràng, dịch vụ chăm sóc trẻ phù hợp đang là nhu cầu cấp thiết.

Hội thảo “Nâng cao quyền năng cho phụ nữ trong nền kinh tế chăm sóc” do Bộ Nội vụ phối hợp với UN Women và Đại sứ quán Australia tại Việt Nam tổ chức ngày 8-10. Ảnh: Quỳnh Anh

Hội thảo “Nâng cao quyền năng cho phụ nữ trong nền kinh tế chăm sóc” do Bộ Nội vụ phối hợp với UN Women và Đại sứ quán Australia tại Việt Nam tổ chức ngày 8-10. Ảnh: Quỳnh Anh

Nhu cầu tương tự cũng xuất hiện ở các nhóm khác trong vòng đời. Bà Nguyễn Thị Bích Thúy nhận định, khoảng 97% người cao tuổi chủ yếu dựa vào chăm sóc của gia đình, trong khi chỉ khoảng 3-5% tiếp cận các dịch vụ chăm sóc chính thức, nhưng độ bao phủ còn thấp và không đồng đều. Trong khi đó, người khuyết tật vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng. Những khoảng trống đó cho thấy khi gia đình không còn đủ khả năng đáp ứng, thị trường và hệ thống dịch vụ chăm sóc cần có năng lực thay thế, bổ trợ và chia sẻ.

Bà Feroza Sanjana nhấn mạnh, cần coi chăm sóc như một dạng hạ tầng kinh tế - xã hội, thay vì chỉ nhìn dưới góc độ phúc lợi. Hệ thống ấy còn giúp giải phóng thời gian cho những người đang phải đảm nhận công việc chăm sóc không được trả công, qua đó mở rộng cơ hội tham gia thị trường lao động.

Tuy nhiên, mở rộng việc làm chăm sóc không đồng nghĩa với việc chuyển phụ nữ từ công việc chăm sóc không được trả công sang những công việc chăm sóc có thu nhập thấp. Đây chính là điểm cần được tính đến khi xây dựng kinh tế chăm sóc. Theo bà Nguyễn Thị Bích Thúy, phụ nữ chiếm tới 72,8% lực lượng lao động trong các lĩnh vực liên quan đến chăm sóc nhưng tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của lao động nữ trong nhóm này chỉ là 59,3%, so với 80,3% ở nam giới. Thu nhập bình quân của lao động nữ trong các lĩnh vực chăm sóc khoảng 7,5 triệu đồng/tháng, thấp hơn mức 9,6 triệu đồng của nam giới.

Vì vậy, cơ hội mà kinh tế chăm sóc mở ra chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng việc làm thỏa đáng, tiền lương phù hợp, bảo hiểm xã hội, đào tạo và các tiêu chuẩn nghề nghiệp rõ ràng. Quá trình chuyển đổi hệ thống chăm sóc cần đồng thời ghi nhận, giảm bớt và phân bổ lại công việc chăm sóc không được trả công; bảo đảm quyền lợi và tiếng nói của lao động chăm sóc được trả công; đồng thời thay đổi những chuẩn mực giới coi chăm sóc chủ yếu là trách nhiệm của phụ nữ.

Đây cũng là lý do kinh tế chăm sóc cần được đặt trong một hệ thống chính sách rộng hơn, thay vì chỉ mở thêm một số dịch vụ riêng lẻ. Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị đảm nhiệm vai trò chủ nhà APEC 2027, vấn đề này càng có thêm cơ hội được đưa vào đối thoại chính sách.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà cho rằng, kinh tế chăm sóc không chỉ liên quan đến an sinh xã hội và bình đẳng giới, mà còn tác động trực tiếp tới thị trường lao động, năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, đầu tư cho chăm sóc cũng là đầu tư cho thời gian, việc làm và khả năng lựa chọn của phụ nữ. Khi những công việc từng bị xem là “việc nhà” được nhìn nhận đúng giá trị và tổ chức thành một hệ thống dịch vụ, chúng có thể trở thành một phần của nền kinh tế với sự đóng góp mạnh mẽ của phụ nữ.

Chi Mai

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/kinh-te-cham-soc-mo-them-co-hoi-cho-phu-nu-1760048.html