Kỳ cuối: Nơi ở mới phải thực sự an toàn

Một trong những điều kiện quyết định thành công của Đề án là vị trí tái định cư phải thực sự an toàn. Không thể đưa người dân ra khỏi vùng nguy hiểm nhưng lại bố trí họ tại một khu vực chưa được đánh giá đầy đủ về nguy cơ sạt lở, ngập lụt, lũ quét hay chia cắt giao thông. Vì vậy, trước khi quyết định đầu tư, cần đánh giá tổng thể các yếu tố về địa hình, địa chất, thủy văn, nguồn nước, giao thông, quỹ đất, khả năng sản xuất và kết nối với các dịch vụ thiết yếu.

Hoàn thành tái định cư cho 26 hộ dân làng Lăng Lương (thôn 6, xã Trà Tập).

Hoàn thành tái định cư cho 26 hộ dân làng Lăng Lương (thôn 6, xã Trà Tập).

Những dữ liệu về lịch sử thiên tai, điểm sạt lở, khu vực ngập lụt, lũ quét cũng cần được cập nhật và tích hợp vào quá trình lựa chọn địa điểm. Sắp xếp dân cư vì thế phải gắn chặt với quy hoạch phòng, chống thiên tai và quản lý đất đai. Trên cơ sở bản đồ nguy cơ và dữ liệu địa chất, địa hình, thủy văn, cần xác định rõ khu vực nào phải di dời khẩn cấp, khu vực nào có thể bố trí dân cư và khu vực nào cần kiểm soát việc hình thành dân cư mới. Đây không chỉ là yêu cầu đối với các khu tái định cư tập trung. Với phương án bố trí xen ghép hoặc ổn định tại chỗ, cũng cần đánh giá mức độ an toàn của từng vị trí, từ đó có giải pháp gia cố nhà ở, bảo vệ taluy, cải tạo hệ thống thoát nước, nâng cấp đường dân sinh, cấp nước và các công trình thiết yếu. Mục tiêu là bảo đảm người dân sau khi di chuyển không phải tiếp tục đối mặt với một dạng rủi ro khác tại nơi ở mới.

Theo danh mục dự kiến, giai đoạn 2026-2030 có 163 khu, điểm tái định cư tập trung, với khả năng bố trí khoảng 7.389 hộ. Trong đó, 31 khu, điểm, khả năng bố trí khoảng 1.279 hộ, đã được đầu tư hoặc có quyết định phê duyệt. Còn lại 132 khu, điểm dự kiến đầu tư mới, với tổng diện tích khoảng 487,11ha và tổng mức đầu tư đề xuất khoảng 3.783,75 tỷ đồng. Đây là nguồn lực lớn trong bối cảnh thành phố đồng thời phải triển khai nhiều nhiệm vụ đầu tư phát triển khác. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là huy động đủ vốn mà còn phải xác định đúng dự án, đúng thời điểm và đúng mức độ ưu tiên.

Trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 được HĐND thành phố thông qua tại Nghị quyết số 48/NQ-HĐND ngày 31/7/2026, thành phố đã bố trí 400 tỷ đồng thuộc lĩnh vực định canh, định cư để triển khai các dự án có liên quan. Tuy nhiên, với nhu cầu đầu tư lớn, việc phân kỳ và lồng ghép các nguồn lực là yêu cầu cần thiết. Trước mắt, nguồn lực cần tập trung cho những khu vực có nguy cơ thiên tai đặc biệt cao, nơi người dân thường xuyên đối mặt với nguy cơ mất an toàn. Những địa bàn có mức độ rủi ro thấp hơn có thể triển khai ở các giai đoạn tiếp theo, trên cơ sở đánh giá lại nhu cầu và khả năng cân đối nguồn lực. Cùng với ngân sách thành phố, cần nghiên cứu lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn đầu tư công có liên quan và các nguồn lực hợp pháp khác. Quan trọng là việc lồng ghép phải được thực hiện theo một kế hoạch tổng thể, tránh tình trạng nhiều chương trình cùng đầu tư một nội dung trong khi những nhu cầu thiết yếu khác của người dân chưa được đáp ứng.

Không chỉ xây nhà mà phải tạo lập một nơi ở đúng nghĩa

Một khu tái định cư chỉ thực sự hoàn thành khi người dân có thể sinh sống an toàn và tiếp cận được các dịch vụ thiết yếu. Vì vậy, đầu tư khu bố trí dân cư phải được tính toán đồng bộ ngay từ đầu, thay vì xây dựng nhà ở trước rồi từng bước bổ sung hạ tầng sau. Các hạng mục như: san nền, đường giao thông, điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và chất thải, công trình phòng, chống sạt lở, trường học, cơ sở y tế, nhà sinh hoạt cộng đồng, hệ thống thông tin và cảnh báo thiên tai cần được xác định phù hợp với quy mô dân số và đặc điểm từng khu vực. Đối với miền núi, yêu cầu này càng quan trọng bởi địa hình chia cắt, dân cư phân tán và điều kiện tiếp cận hạ tầng còn nhiều hạn chế. Một khu dân cư có nhà ở kiên cố nhưng đường giao thông khó đi, thiếu nước sinh hoạt, xa trường học, cơ sở y tế hoặc không có phương án ứng phó khi xảy ra thiên tai thì chưa thể được xem là nơi ở ổn định. Do đó, trước khi quyết định đầu tư từng khu, điểm tái định cư, cần đánh giá đồng thời quỹ đất, nguồn nước, giao thông, khả năng sản xuất, khoảng cách đến trường học và cơ sở y tế, cơ hội việc làm cũng như khả năng mở rộng dân cư trong tương lai.

Đặc biệt tại khu vực miền núi, nếu khu tái định cư quá xa nương rẫy, đất sản xuất hoặc nơi tạo thu nhập truyền thống, chi phí đi lại sẽ tăng, phương thức sản xuất có thể bị thay đổi và thu nhập bị ảnh hưởng. Khi cuộc sống gặp khó khăn, nguy cơ người dân quay trở lại nơi ở cũ hoặc phát sinh tình trạng di cư tự phát có thể xuất hiện. Vì vậy, cùng với phương án bố trí nhà ở, mỗi khu tái định cư cần có phương án sinh kế cụ thể. Tùy điều kiện từng địa bàn, có thể kết hợp hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề, đào tạo nghề, kết nối việc làm, phát triển nông - lâm nghiệp, cây dược liệu, sản phẩm đặc trưng địa phương, tín dụng chính sách và các chương trình giảm nghèo. Những nơi có điều kiện đất đai phù hợp có thể tập trung chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, phát triển sản phẩm đặc trưng… ; những địa bàn có lợi thế về rừng, cảnh quan và văn hóa có thể nghiên cứu các mô hình kinh tế phù hợp, gắn với bảo vệ rừng và phát triển du lịch cộng đồng,...; tại những nơi quỹ đất sản xuất hạn chế, việc đào tạo nghề, kết nối doanh nghiệp, tạo việc làm ngoài nông nghiệp và hỗ trợ tín dụng cần được chú trọng hơn. Điều quan trọng là không nên áp dụng một mô hình sinh kế giống nhau cho mọi khu tái định cư, mà phải căn cứ vào điều kiện đất đai, lao động, tập quán sản xuất và lợi thế của từng địa bàn.

Một khu tái định cư ở vùng cao Đà Nẵng được hoàn thành phục vụ di dời người dân khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai.

Một khu tái định cư ở vùng cao Đà Nẵng được hoàn thành phục vụ di dời người dân khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai.

Giữ cộng đồng, giữ không gian văn hóa

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nơi ở không chỉ là một căn nhà. Đó còn là không gian cộng đồng, quan hệ dòng họ, phong tục, tập quán và phương thức sản xuất được hình thành qua nhiều thế hệ. Bởi vậy, quá trình sắp xếp dân cư cần tính đến đặc điểm văn hóa và quan hệ cộng đồng, hạn chế tối đa việc chia tách các nhóm dân cư. Nếu phương án tái định cư làm thay đổi quá lớn không gian sinh hoạt truyền thống và phương thức sản xuất mà không có giải pháp hỗ trợ phù hợp, quá trình thích nghi của người dân sẽ gặp nhiều khó khăn. Theo đó, việc lựa chọn vị trí, quy mô và cách thức bố trí dân cư vì thế cần có sự tham gia thực chất của người dân. Các hộ dân phải được cung cấp đầy đủ thông tin về vị trí khu tái định cư, hạ tầng, đất ở, đất sản xuất, chính sách hỗ trợ và điều kiện sinh kế trước khi quyết định di dời. Sự tham gia của cộng đồng sẽ giúp chính quyền nhận diện rõ hơn những nhu cầu mà các tiêu chí kỹ thuật khó phản ánh đầy đủ, từ quan hệ dòng họ, không gian sinh hoạt chung đến tập quán sản xuất và những yếu tố văn hóa đặc thù.

Có thể nói, sắp xếp dân cư vùng thiên tai không phải là câu chuyện của một lần di dời, mà là một hành trình dài để tái thiết cuộc sống. Di dời chỉ là bước khởi đầu, một khu tái định cư chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người dân được bảo đảm an toàn về nơi ở, ổn định về sinh kế và bền vững về cộng đồng. Khi đó, tái định cư không đơn thuần là chuyển con người đến một nơi an toàn hơn, mà là mở ra cơ hội để họ gây dựng lại cuộc sống, an tâm gắn bó và hướng tới một tương lai ổn định hơn.

Minh Sơn

Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/ky-cuoi-noi-o-moi-phai-thuc-su-an-toan-post358843.html