Làm chủ sản xuất, nâng tầm hàng tiêu dùng Việt
Các nhà sản xuất hàng tiêu dùng không chỉ cạnh tranh về giá mà còn phải làm chủ chất lượng, công nghệ, thương hiệu và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.
Làm chủ từ nguyên liệu đến sản phẩm
Ngành thực phẩm và hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) đang thay đổi khi người tiêu dùng ngày càng chú trọng chất lượng, nguồn gốc, sức khỏe và trách nhiệm với môi trường.
Trong bối cảnh đó, năng lực cạnh tranh của hàng tiêu dùng Việt không còn chỉ nằm ở quy mô nhà máy hay độ phủ thị trường. Doanh nghiệp phải làm chủ sâu hơn từ nguyên liệu, công nghệ, chất lượng đến thương hiệu và khả năng thích ứng với yêu cầu mới.

Sản xuất nước mắm kết hợp quy trình vừa truyền thống và chuẩn hóa hiện đại. Ảnh: Thùy Linh
Tại Nhà máy Masan Phú Quốc, quá trình tạo ra nước mắm cốt bắt đầu từ kiểm soát nguyên liệu tại nhà thùng rộng hơn 22.000m², có gần 500 thùng ủ chượp, sức chứa hơn 10.000 tấn cá mỗi năm.
Cá cơm được đánh giá về loại cá, tỷ lệ cá tạp, độ tươi, độ khô và độ muối; cá được trộn với muối ngay trên tàu trước khi đưa về nhà thùng, giúp hạn chế suy giảm chất lượng trong quá trình vận chuyển.
Cá và muối sau đó được đưa vào thùng, gài nén chặt và ủ trong thời gian dài. Tùy sản phẩm, thời gian ủ có thể 9-12 tháng; với quy trình theo chỉ dẫn địa lý nước mắm Phú Quốc, thời gian trung bình khoảng 12-15 tháng.
Sau khi chượp chín, nước mắm cốt được xử lý trước khi trở thành nguyên liệu cho sản phẩm. Mỗi thùng được gắn mã định danh để quản lý, truy xuất trong quá trình sản xuất. “Nhà thùng Phú Quốc vừa kế thừa phương pháp ủ chượp truyền thống, vừa chuẩn hóa quản lý, kiểm soát chất lượng và xử lý nước thải mặn”, ông Bùi Huy Hoàng, Giám đốc Nhà máy Masan Phú Quốc nói.
Câu chuyện này cho thấy, làm chủ sản xuất không có nghĩa thay thế truyền thống bằng máy móc, mà là biến kinh nghiệm thành quy trình có thể kiểm soát, truy xuất và duy trì chất lượng ổn định. Đây cũng là yêu cầu ngày càng rõ của ngành FMCG khi người tiêu dùng coi trọng nguồn gốc và an toàn sản phẩm.
Nếu chất lượng là nền tảng của thương hiệu, khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng ngày càng quyết định việc doanh nghiệp có duy trì được cam kết với thị trường hay không. Điều này đặc biệt rõ ở những ngành hàng sử dụng nguyên liệu nông sản, gia vị và dược liệu, nơi chất lượng đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến thành phẩm.
Ông Nguyễn Trung Dũng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Dh Foods, cho biết doanh nghiệp đang mở rộng nhà máy, tìm kiếm và phát triển hợp tác với các trang trại nhằm kiểm soát nguồn nguyên liệu từ sản xuất, thu hoạch đến chế biến và đưa sản phẩm tới người tiêu dùng. Định hướng là phát triển sản phẩm theo hướng tự nhiên, sử dụng nguyên liệu Việt Nam và từng bước nâng khả năng kiểm soát toàn bộ quá trình.
Theo ông Dũng, nguồn nguyên liệu trong nước phong phú là lợi thế, nhưng kiểm soát chất lượng vẫn khó do tiêu chuẩn giữa các trang trại chưa đồng nhất, nhiều cơ sở sản xuất chưa được đầu tư bài bản. Khâu sơ chế sau thu hoạch cũng là công đoạn khó kiểm soát, có thể ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu trước khi đưa vào nhà máy.
“Chúng tôi đang làm việc trực tiếp với từng trang trại để đầu tư hoặc tư vấn, bảo đảm nguyên liệu được vận chuyển kịp thời sau thu hoạch hoặc sơ chế trong điều kiện phù hợp trước khi chuyển về nhà máy”, ông Dũng cho biết. Trong tháng vừa qua, nhà máy Dh Foods được nâng chuẩn từ BRC B+ lên A+, tạo thêm điều kiện đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm và mở rộng khả năng tiếp cận hệ thống phân phối, khách hàng quốc tế.
Ở Nestlé Việt Nam, yêu cầu được nhìn từ toàn bộ chuỗi giá trị. Bà Lê Thị Hoài Thương, Giám đốc Đối ngoại Nestlé Việt Nam, cho rằng, người tiêu dùng, nhà bán lẻ và thị trường xuất khẩu đặt ra tiêu chuẩn cao hơn về truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và phát triển bền vững.
Thông qua chương trình NESCAFÉ Plan Việt Nam, Nestlé đã đồng hành cùng hơn 23.000 nông hộ, phân phát hơn 100 triệu cây giống chất lượng cao và thúc đẩy các mô hình canh tác bền vững, qua đó vừa bảo đảm nguyên liệu vừa tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài.
Xanh hóa, số hóa để tăng giá trị
Nếu làm chủ sản xuất là nền tảng, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số đang trở thành động lực mới để hàng tiêu dùng nâng sức cạnh tranh. Theo Bộ Công Thương, doanh thu bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 31-32 tỷ USD, tăng khoảng 25-26% so với năm trước. Thương mại điện tử và bán hàng đa kênh mở thêm cơ hội tiếp cận người tiêu dùng, nhưng đồng thời đòi hỏi đầu tư dữ liệu, công nghệ và tối ưu chuỗi cung ứng.

Hệ thống bán lẻ hàng tiêu dùng cũng được số hóa chuỗi cung ứng để tăng hiệu quả quản trị. Ảnh: Lưu Quyên
Từ góc độ bán lẻ, ông Lê Sỹ Hiển, Giám đốc vận hành miền Bắc, MM Mega Market Việt Nam, cho biết doanh nghiệp đang kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh thông qua số hóa chuỗi cung ứng, ứng dụng AI trong bán hàng và quản trị, phát triển Digital Farming và tăng cường truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp đồng thời triển khai điện mặt trời áp mái, công trình xanh, giảm rác thải nhựa và kiểm soát lãng phí thực phẩm.
Nền tảng Digital Farming của MM Mega Market kết nối hơn 10.000 hộ nông dân, chuẩn hóa quy trình theo VietGAP, GlobalGAP và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR. Đây không chỉ là công cụ bán lẻ mà còn giúp doanh nghiệp kiểm soát nguồn cung, chất lượng và thông tin sản phẩm tốt hơn.
Còn tại Công ty cổ phần WinCommerce (vận hành hệ thống siêu thị WinMart, WinMart+,WiN) cũng ứng dụng Big Data, AI và Machine Learning để lựa chọn địa điểm, quản trị danh mục, dự báo nhu cầu, quản lý tồn kho và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng. Dữ liệu vì vậy ngày càng trở thành một phần của năng lực sản xuất và phân phối, giúp doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động sát nhu cầu, giảm lãng phí và nâng năng suất.
Cùng với số hóa, xanh hóa đang chuyển từ lựa chọn mang tính khuyến khích thành yêu cầu của thị trường. Người tiêu dùng, hệ thống bán lẻ và thị trường xuất khẩu ngày càng chú trọng truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và phát triển bền vững. Doanh nghiệp vì vậy phải đưa yêu cầu xanh vào toàn bộ quá trình, từ nguyên liệu, nhà máy đến bao bì và logistics.
Với hàng tiêu dùng Việt, thách thức không chỉ là làm ra sản phẩm đủ tốt, mà là làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị để tạo khác biệt. Một sản phẩm có nguyên liệu được kiểm soát, quy trình minh bạch, công nghệ phù hợp, dữ liệu được số hóa và thương hiệu tạo được niềm tin sẽ có nhiều cơ hội nâng giá trị.
Từ những thùng gỗ ở Phú Quốc đến các nền tảng số trong bán lẻ, quá trình nâng tầm hàng tiêu dùng Việt đang diễn ra trên nhiều mắt xích. Khi làm chủ tốt hơn từ nguyên liệu đến thị trường, hàng Việt có nền tảng vững hơn để chinh phục người tiêu dùng và mở rộng sức cạnh tranh quốc tế.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/lam-chu-san-xuat-nang-tam-hang-tieu-dung-viet-1760277.html

