Lương hơn 103 triệu/tháng, nữ nhân viên ngân hàng đòi 37 tỷ sau khi mất việc
Sau 14 năm làm việc, nữ nhân viên bị ngân hàng cho thôi việc với lý do thay đổi cơ cấu. Cho rằng quyết định này trái luật, nhân viên yêu cầu ngân hàng bồi thường hơn 37 tỷ đồng.
Hơn 14 năm làm việc, nhận thông báo mất việc
Bà Vũ Thị Ngọc T. ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Ngân hàng D. - Chi nhánh thành phố H. từ tháng 6/2007, ban đầu làm chuyên viên Phòng Dịch vụ lưu ký chứng khoán. Sau đó, bà lần lượt được bổ nhiệm làm chuyên viên Dịch vụ khách hàng, Trưởng Ban hỗ trợ khách hàng và Trợ lý Phó Chủ tịch.
Ngày 4/11/2020, bà T. được mời dự cuộc họp với lãnh đạo Ngân hàng D. Nội dung cuộc họp liên quan chiến lược thay đổi cơ cấu, cắt giảm chi phí, tập trung vào những điểm mạnh và các bộ phận kinh doanh có lợi nhuận. Bà T. cho rằng tại cuộc họp, mình được thông báo sẽ bị cho thôi việc do vị trí bị dư thừa.
Tuy nhiên, theo ngân hàng, tại cuộc họp lãnh đạo chỉ giải thích về chiến lược thay đổi cơ cấu và yêu cầu rà soát hiệu quả hoạt động của bộ phận dịch vụ chứng khoán; việc bà T. bị cho thôi việc là do vị trí bị dư thừa.
Ngày 16/11/2020, bà T. được yêu cầu nghỉ nguyên lương kể từ ngày 17/11/2020 cho đến khi có thông báo tiếp theo. Trong thời gian này, bà không được đến văn phòng, tiếp cận tài liệu, tài sản, hệ thống công nghệ thông tin hay liên hệ với người lao động, quản lý, khách hàng và các đối tác của ngân hàng.
Đến ngày 9/2/2021, Ngân hàng D. ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, xác định ngày kết thúc là 13/2/2021.
Thời điểm chấm dứt, mức lương hàng tháng của bà T. được ngân hàng xác định là hơn 103 triệu đồng, là mức lương ngân hàng kê khai và đóng bảo hiểm bắt buộc cho bà.

Lương hơn 103 triệu/tháng, nữ nhân viên ngân hàng đòi bồi thường hơn 37 tỷ sau khi bị chấm dứt hợp đồng nhưng không được tòa chấp nhận. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Bà T. cho rằng, mình luôn hoàn thành công việc, không vi phạm hay bị kỷ luật. Theo bà, lý do thực chất khiến ngân hàng chấm dứt hợp đồng không phải thay đổi cơ cấu mà là hành vi trả thù cá nhân, phân biệt đối xử và nạn nhân hóa sau khi bà tố cáo nhiều vấn đề mà bà cho là sai phạm nội bộ của Ngân hàng D.
Trong số những nội dung bà T. nêu có các cáo buộc liên quan chính sách phê duyệt sản phẩm, quy trình lưu ký chứng khoán, nhận biết khách hàng, thuế nhà thầu; thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật; giấy phép hoạt động; hồ sơ xin cấp giấy phép lao động; cùng những cáo buộc về việc bị bắt nạt, phân biệt đối xử và đe dọa trong quá trình làm việc.
Từ đó, bà T. cho rằng, quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của ngân hàng với bà là trái pháp luật nên khởi kiện ra tòa án. Bà yêu cầu Ngân hàng D. bồi thường tiền lương trong thời gian không được làm việc và khoản tiền bồi thường bằng 2 tháng tiền lương theo pháp luật lao động.
Đồng thời, bà yêu cầu ngân hàng đóng bảo hiểm xã hội cho thời gian không được làm việc do bị chấm dứt hợp đồng; yêu cầu nhận bà trở lại làm việc.
Đáng chú ý, bà T. còn yêu cầu bồi thường 34 tỷ đồng cho tổn thất về danh dự, uy tín và sức khỏe tinh thần, trong đó gồm 14 tỷ đồng cho thiệt hại về sức khỏe, tinh thần và 20 tỷ đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Ngân hàng D. không đồng ý và cho rằng việc chấm dứt hợp đồng xuất phát từ quá trình tái cơ cấu, tổ chức lại lao động trong bối cảnh ảnh hưởng của dịch Covid-19 và kế hoạch thay đổi mô hình kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả, tinh gọn bộ phận, tối ưu nguồn lực.
Theo phương án của ngân hàng, một phòng ban được giải thể, một số phòng ban được sáp nhập thành phòng mới; 3 người được điều chuyển, 9 người thay đổi chế độ báo cáo và 3 người bị cho thôi việc, trong đó có bà T.
Ngân hàng cho biết đã lập phương án sử dụng lao động, lấy ý kiến Công đoàn ngân hàng, ban hành quyết định thay đổi cơ cấu và thông báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố H. về việc cho bà T. thôi việc. Ngân hàng cũng cho hay đã thanh toán các khoản theo quy định, gồm tiền lương, tiền nghỉ phép chưa sử dụng, trợ cấp mất việc và khoản trợ cấp đào tạo. Tổng số tiền chi trả cuối cùng trước thuế là hơn 552,8 triệu đồng.
2 cấp tòa đều bác yêu cầu bồi thường
Tranh luận tại tòa, phía bà T. cho rằng việc áp dụng Bộ luật Lao động năm 2012 là không đúng vì hợp đồng của bà chính thức chấm dứt ngày 13/2/2021, thời điểm Bộ luật Lao động năm 2019 đã có hiệu lực.
Luật sư của bà T. cũng cho rằng ngân hàng xây dựng phương án sử dụng lao động không đúng quy trình, không công khai phương án theo quy định; đồng thời việc thông báo cho cơ quan quản lý lao động và người lao động chưa bảo đảm trình tự.
Trong khi đó, Ngân hàng D. cho rằng việc chấm dứt hợp đồng đã được quyết định từ ngày 24/12/2020 và toàn bộ quá trình xây dựng, thực hiện phương án sử dụng lao động, thủ tục thông báo đều diễn ra trong thời gian Bộ luật Lao động năm 2012 còn hiệu lực. Vì vậy, ngân hàng đề nghị áp dụng quy định của Bộ luật này.
Tại bản án sơ thẩm ngày 11/9/2023, TAND Quận 1, TPHCM không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Cụ thể, tòa không chấp nhận yêu cầu bồi thường tạm tính hơn 3,6 tỷ đồng, gồm 3,4 tỷ đồng tiền lương trong thời gian không được làm việc và 223,3 triệu đồng tương đương 2 tháng tiền lương; không chấp nhận yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội, nhận bà T. trở lại làm việc và yêu cầu bồi thường 34 tỷ đồng.
Ngày 11/9/2023, Bà T. kháng cáo toàn bộ bản án. Tại phiên phúc thẩm, luật sư của bà tiếp tục đề nghị hủy án sơ thẩm, trong đó cho rằng cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ những tài liệu liên quan đến Thông cáo ngày 7/7/2019 và việc dịch các nội dung về chiến lược thay đổi cơ cấu của Ngân hàng D.
Tuy nhiên, HĐXX phúc thẩm nhận định trình tự, thủ tục tái cơ cấu, sắp xếp lại lao động đều được thực hiện trước ngày 1/1/2021. Ngày 24/12/2020, ngân hàng đã thông báo chấm dứt hợp đồng vào ngày 13/2/2021, tức thực hiện thời gian báo trước 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Vì vậy, việc cấp sơ thẩm áp dụng Bộ luật Lao động năm 2012 là đúng.
Về lý do thay đổi cơ cấu, HĐXX cho rằng tài liệu trong hồ sơ thể hiện ngày 7/7/2019, ngân hàng đã quyết định thay đổi cơ cấu trên phạm vi toàn cầu. Hai bên cũng thừa nhận ngân hàng mẹ tại Đức có chủ trương chuyển đổi mô hình kinh doanh, đặt mục tiêu cắt giảm 1/4 chi phí vào năm 2022.
Tòa xác định, Ngân hàng D. là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập tại Việt Nam nên việc thay đổi cơ cấu, tổ chức lại lao động phải thực hiện theo pháp luật Việt Nam và thuộc quyền quyết định của ngân hàng.
Trước khi tái cơ cấu, ngân hàng có 71 lao động. Sau khi tổ chức lại, số lao động giảm 4 người. Một phòng ban được giải thể, các phòng ban khác được sáp nhập; 3 người được điều chuyển, 9 người thay đổi cơ chế báo cáo và 3 người bị cho thôi việc, trong đó có bà T.
HĐXX cũng xác định ngân hàng đã xây dựng dự thảo phương án sử dụng lao động, gửi công đoàn ngân hàng xem xét, lấy ý kiến trước khi ban hành. Phương án thể hiện số người lao động, số người thôi việc, lý do và thời điểm thôi việc.
Ngày 24/12/2020, ngân hàng ban hành quyết định thay đổi cơ cấu, đồng thời gửi thông báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố H. về việc cho người lao động thôi việc vì thay đổi cơ cấu. Cùng ngày, ngân hàng gửi thông báo chấm dứt hợp đồng cho bà T., xác định ngày chấm dứt là 13/2/2021. HĐXX cho rằng, trình tự này phù hợp các quy định được áp dụng trong vụ án.
Về các khoản tiền, tòa ghi nhận Ngân hàng D. đã thanh toán cho bà T. hơn 552,8 triệu đồng, trước thuế và bà T. xác nhận đã nhận đủ.
Do đó, HĐXX phúc thẩm cho rằng, việc cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà T. là có cơ sở.
Kết thúc phiên phúc thẩm, TAND TPHCM không chấp nhận kháng cáo của bà T., giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Theo đó, bà T. không được chấp nhận yêu cầu bồi thường hơn 3,6 tỷ đồng, yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian không được làm việc, nhận trở lại làm việc và yêu cầu bồi thường 34 tỷ đồng về tổn thất danh dự, uy tín, sức khỏe tinh thần.
(Bài viết dựa trên Bản án số 94/2024/LĐ-PT ngày 29/8/2024 của TAND TPHCM).

