Mở hướng nuôi cá mú Úc trên cao nguyên Gia Lai
Từ 1 loài cá vốn quen thuộc ở các tỉnh phía Nam, ông Nguyễn Đình Nhị (tổ dân phố 6, phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) đã mạnh dạn đưa cá mú Úc về nuôi thử nghiệm bằng hệ thống tuần hoàn khép kín.
Sau hơn 1 năm, mô hình bước đầu cho doanh thu khoảng 600 triệu đồng/năm, mở thêm hướng đa dạng hóa vật nuôi phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương.
Mạnh dạn đưa giống cá mới về cao nguyên
Sau những lần thưởng thức cá mú Úc tại các tỉnh phía Nam và ấn tượng với chất lượng thịt dai, thơm, ông Nhị bắt đầu tìm hiểu khả năng đưa loài cá này về nuôi tại Gia Lai.

Hồ nuôi cá mú Úc theo công nghệ tuần hoàn khép kín (RAS) của ông Nguyễn Đình Nhị. Ảnh: M.C
Tháng 3-2025, ông đầu tư xây dựng hệ thống nuôi và nhập hơn 4.000 con giống từ Đồng Tháp về nuôi thử nghiệm. Đây là đối tượng nuôi còn khá mới tại địa phương nên những ngày đầu, ông Nhị phải tự tìm hiểu từ kỹ thuật chăm sóc, quản lý chất lượng nước đến vận hành hệ thống.
“Là người đầu tiên nuôi cá mú Úc ở Gia Lai nên ban đầu tôi khá bỡ ngỡ. Nhiều kỹ thuật phải vừa làm, vừa tìm hiểu và rút kinh nghiệm” - ông Nhị chia sẻ.
Theo ông Nhị, một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn giống. Cá mú Úc giống chủ yếu được cung cấp từ các tỉnh phía Nam. Quá trình vận chuyển lên Gia Lai qua nhiều chặng, phải thay nước, bổ sung oxy nên tỷ lệ hao hụt khá cao, có thời điểm lên đến hơn 20%.
Để chủ động kiểm soát môi trường nuôi, ông đầu tư hệ thống nuôi tuần hoàn khép kín (RAS). Nước từ các bể nuôi được đưa qua hệ thống lọc, xử lý rồi tuần hoàn trở lại, qua đó duy trì chất lượng nước, oxy và hàm lượng nitrat phù hợp cho cá.

Cá mú Úc nuôi tại mô hình có trọng lượng phổ biến từ 0,6-1 kg con trước khi thu hoạch. Ảnh: M.C
Hiện gia đình ông duy trì 4 hồ nuôi với tổng thể tích khoảng 200 m³ nước. Bể nuôi chính có thể tích khoảng 70 m³, đường kính 8 m, cao 1,5 m; các bể còn lại phục vụ ương giống và chăm sóc cá.
Đến nay, tổng vốn đầu tư xây dựng hệ thống và sản xuất khoảng 700 triệu đồng. Trong đó, chi phí cho bể nuôi và con giống khoảng 70-80 triệu đồng, phần lớn vốn còn lại tập trung cho hệ thống lọc và tuần hoàn nước.
Do hệ thống phải vận hành liên tục, nguồn điện và thiết bị kỹ thuật được ông Nhị đặc biệt chú trọng. Hằng ngày, ông theo dõi các chỉ số môi trường nước, kiểm tra độ pH, oxy và hệ thống bơm để kịp thời xử lý khi có bất thường.
“Cá sống trong nước nên phải xử lý nước cho sạch. Nếu nguồn nước được xử lý tốt thì cá ít bệnh. Ngược lại, nước không bảo đảm sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của cá” - ông Nhị cho biết.

Bèo dâu, bèo phấn được gia đình chủ động sản xuất, kết hợp với các loại thức ăn khác nhằm giảm chi phí nuôi cá. Ảnh: M.C
Để giảm chi phí sản xuất, ngoài thức ăn công nghiệp, gia đình ông còn kết hợp sử dụng sâu canxi, bèo dâu, bèo phấn do gia đình chủ động sản xuất. Theo tính toán của ông Nhị, phương pháp này giúp giảm khoảng 30% chi phí thức ăn.
Bước đầu cho hiệu quả kinh tế
Cá mú Úc cần ít nhất 12 tháng mới đạt kích cỡ thu hoạch, phổ biến từ 0,6-1 kg/con. Hiện cá từ 0,6-0,8 kg được ông Nhị bán với giá khoảng 250.000 đồng/kg; cá từ 0,8 kg trở lên có giá khoảng 300.000 đồng/kg.
Do sản lượng chưa nhiều, kích cỡ cá chưa đồng đều nên sản phẩm chủ yếu được cung cấp cho khách quen, nhà hàng và các cơ sở kinh doanh hải sản.
Sau quá trình thử nghiệm, điều chỉnh quy trình chăm sóc và ổn định môi trường nước, mô hình bắt đầu cho hiệu quả kinh tế. Với sản lượng khoảng 2,5 tấn/năm, giá bán bình quân khoảng 250.000 đồng/kg, ông Nhị ước tính doanh thu đạt khoảng 600 triệu đồng/năm.
Tuy nhiên, ông chưa có ý định mở rộng quy mô ngay mà tiếp tục hoàn thiện quy trình, ổn định sản lượng, chất lượng cá và tìm kiếm đầu ra bền vững.

Ông Nguyễn Đình Nhị kiểm tra trọng lượng, chất lượng cá trước khi xuất bán. Ảnh: M.C
Mô hình cũng bắt đầu thu hút sự quan tâm của một số nông dân trên địa bàn. Ông Lê Văn Trường (phường Thống Nhất) vốn có kinh nghiệm và đam mê nuôi cá đã tìm đến tham quan, tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc, vận hành hệ thống.
“Qua tham quan, tôi thấy mô hình có khả năng tạo giá trị kinh tế và đang tiếp tục tìm hiểu để nghiên cứu áp dụng phù hợp với điều kiện sản xuất của gia đình” - ông Trường nói.
Theo ông Đinh Thanh Quát (phường Diên Hồng), mô hình nuôi cá mú Úc có ưu điểm là không cần nhiều diện tích, môi trường nước được kiểm soát và người nuôi có thể chủ động trong quá trình chăm sóc.
Tuy vậy, chi phí đầu tư ban đầu khá lớn, trong khi việc vận hành hệ thống tuần hoàn và kiểm soát môi trường nước đòi hỏi người nuôi phải có kiến thức, kỹ thuật.
Bà Phan Thị Hoài Thương - Chủ tịch Hội Nông dân phường Hội Phú - đánh giá: Đây là mô hình mới, bước đầu cho thấy hiệu quả và có thể trở thành một hướng tham khảo trong đa dạng hóa vật nuôi tại địa phương.
“Cá được nuôi trong hồ nhân tạo nên dễ kiểm soát môi trường, tiết kiệm diện tích mặt nước và chủ động về chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, thời gian nuôi tương đối dài, ít nhất 1 năm mới cho thu hoạch” - bà Thương nhận xét.
Theo bà Thương, thời gian tới, Hội Nông dân phường sẽ tuyên truyền, vận động hội viên tham quan, học tập kinh nghiệm từ mô hình; đồng thời tạo điều kiện để nông dân tiếp cận Quỹ hỗ trợ nông dân và các nguồn vốn ủy thác từ ngân hàng nếu có nhu cầu đầu tư những mô hình sản xuất phù hợp.

Ông Nhị cùng người dân kiểm tra đàn cá và hệ thống hồ nuôi. Ảnh: M.C
Từ sự mạnh dạn đưa giống cá mới về nuôi thử nghiệm, ông Nguyễn Đình Nhị đang từng bước hoàn thiện quy trình nuôi cá mú Úc phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương.
Hiệu quả bước đầu không chỉ đem lại nguồn thu cho gia đình mà còn gợi mở thêm 1 lựa chọn cho nông dân Gia Lai trong quá trình đa dạng hóa đối tượng nuôi, hướng tới những mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ, tiết kiệm diện tích và kiểm soát tốt môi trường.


