Mở lối cho sản vật vùng cao bằng công nghệ

Ứng dụng công nghệ từ sản xuất, chế biến đến truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử có thể giúp sản vật vùng cao tăng giá trị, mở rộng thị trường, nhưng cần phù hợp quy mô và năng lực của từng địa phương.

Ứng dụng khoa học, công nghệ đang mở ra hướng đi mới trong nâng cao giá trị cho sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ảnh: Thanh Tiến

Ứng dụng khoa học, công nghệ đang mở ra hướng đi mới trong nâng cao giá trị cho sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ảnh: Thanh Tiến

Với 30ha thanh long ruột đỏ, Hợp tác xã (HTX) Lộc Thúy Quỳnh Farm (Phú Thọ) từng đối mặt tình trạng được mùa rớt giá, trong khi quả tươi khó bảo quản và vận chuyển xa.

Theo Giám đốc HTX Trần Thị Thúy, để giải quyết bài toán này, đơn vị đã đầu tư dây chuyền sản xuất, ứng dụng công nghệ chế biến sâu và phát triển mì gạo thanh long. Việc chuyển từ bán quả tươi sang sản phẩm chế biến giúp kéo dài thời gian bảo quản, nâng giá trị và mở rộng thị trường. HTX đã ký hợp đồng với một đối tác Trung Quốc và đang hướng tới đưa sản phẩm vào chuỗi siêu thị tại Hà Lan. Thời gian tới, đơn vị dự kiến tiếp tục ứng dụng công nghệ số, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, đồng thời phát triển thêm sản phẩm mì thanh long thịt bò hầm ăn liền.

Câu chuyện của Lộc Thúy Quỳnh Farm cho thấy, công nghệ có thể giúp sản vật địa phương thoát khỏi tình trạng phụ thuộc vào tiêu thụ nguyên liệu tươi. Tuy nhiên, theo bà Thúy, các HTX vẫn gặp khó về vốn, nhân lực chuyên môn và kỹ năng ứng dụng công nghệ. Quy mô sản xuất cũng là bài toán khó, bởi sản lượng vượt nhu cầu có thể dẫn tới tồn kho, nhưng quá nhỏ lại khó đáp ứng đơn hàng và duy trì chuỗi cung ứng.

Công nghệ phải đi theo chuỗi giá trị

Theo ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp, điểm nghẽn không chỉ nằm ở việc thiếu máy móc, công nghệ hiện đại mà còn ở một hệ thống công nghệ chưa đồng bộ, phù hợp với quy mô và điều kiện từng vùng.

Sản xuất tại nhiều nơi còn phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa khiến chất lượng nguyên liệu thiếu ổn định. Sau thu hoạch, thiếu công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản và chế biến làm tăng hao hụt. Dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và kết nối thị trường cũng còn hạn chế. Hệ quả là nhiều sản vật dù có chất lượng và giá trị văn hóa vẫn chủ yếu được bán dưới dạng nguyên liệu thô, khó nâng giá trị gia tăng.

Theo ông Tiến, giải pháp không phải chạy theo công nghệ đắt tiền mà cần xuất phát từ nhu cầu thực tế, phù hợp điều kiện tự nhiên, quy mô vùng nguyên liệu, khả năng đầu tư và trình độ vận hành tại địa phương. Chuyển giao công nghệ cũng không thể dừng ở bàn giao máy móc mà cần đi từ thiết kế, thử nghiệm đến đào tạo nhân lực kỹ thuật tại chỗ. Hiệu quả phải được đo bằng khả năng áp dụng vào thực tế, mức giảm chi phí, hao hụt, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ và thu nhập của người sản xuất.

Thực hiện Nghị quyết số: 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp định hướng giải pháp theo chuỗi giá trị thay vì triển khai riêng lẻ; theo đó, mỗi sản phẩm chủ lực cần gắn với vùng nguyên liệu, quy trình kỹ thuật, đầu mối tổ chức sản xuất và phương án thị trường.

Các mô hình trình diễn cũng được định hướng xây dựng tại vùng sản xuất, lấy HTX hoặc doanh nghiệp địa phương làm hạt nhân. Mô hình hiệu quả sẽ được chuẩn hóa để nhân rộng nhưng điều chỉnh theo điều kiện từng địa phương. “Mục tiêu cuối cùng là đưa công nghệ vào thực tiễn, giúp giảm chi phí, tăng thu nhập, ổn định vùng nguyên liệu và nâng sức cạnh tranh cho sản phẩm địa phương”, ông Tiến nói.

Thu hẹp khoảng cách về kỹ năng số

Ở khâu phân phối, ông Bùi Quang Cường, Trưởng Ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cho rằng, công nghệ số giúp thu hẹp khoảng cách địa lý nhưng đồng thời có thể tạo ra khoảng cách về kỹ năng.

Người sản xuất hiện có thể bán hàng trên toàn quốc, thậm chí ra nước ngoài. Tuy nhiên, để làm được điều này, họ cần biết cách đưa sản phẩm lên thị trường số, từ hoàn thiện bao bì, nhãn mác, xây dựng câu chuyện thương hiệu đến xác định khách hàng. Bán hàng trên môi trường số cũng đòi hỏi sự đồng bộ từ định giá, nội dung, thanh toán, logistics đến chăm sóc khách hàng, thay vì chỉ đưa sản phẩm lên nền tảng rồi chờ người mua.

Theo ông Cường, phát triển thương mại điện tử cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần theo hướng hệ sinh thái, kết nối nền tảng, logistics, thanh toán, đào tạo và các dịch vụ hỗ trợ để doanh nghiệp, HTX không phải tự xoay xở từng khâu. Cùng với nâng kỹ năng số, thương mại điện tử xuyên biên giới có thể giúp các chủ thể chủ động tiếp cận thị trường quốc tế.

Từ thực tế của HTX Lộc Thúy Quỳnh Farm, bà Trần Thị Thúy cho rằng, các HTX cần được hỗ trợ đồng bộ về tài chính, chuyển giao công nghệ, kỹ năng số và kết nối thị trường; đây là những điều kiện để sản phẩm địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng đầu ra và từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Lam Ngọc

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/mo-loi-cho-san-vat-vung-cao-bang-cong-nghe-10431286.html