Một ngày ở Gia Miêu
Những ngày tháng Chạp, dù ở ngoài kia thời gian vùn vụt trôi thì khi đến Gia Miêu ngoại trang (nay là thôn Gia Miêu, xã Hà Long) tôi lại muốn bước chậm hơn, để lẳng lặng nghe âm vang của lịch sử, tiếng thở của đất, của người dội về...

Đình Gia Miêu - công trình kiến trúc nghệ thuật bề thế với nhiều mảng chạm khắc, trang trí cầu kỳ.
Sáng sớm mùa đông. Trời bàng bạc màu sương, và tôi thì lạnh tê tái, thảng hoặc phà hơi ấm từ cổ họng ra. Đón chúng tôi, ông Nguyễn Đình Luận - người đang trông coi miếu Triệu Tường, xã Hà Long trong trang phục “bất chấp thời tiết”, giơ bàn tay nhăn và nhiều vết chai sần, hồ hởi nói: Chỉ lạnh chút đầu sớm, lát là nắng lên rồi.
Có lẽ nhiều người đã biết đến Gia Miêu đất quý hương của nhà Nguyễn. Nơi đây là biết bao dòng tộc, con người ra đi mở cõi phương Nam... một phần vì biến thiên lịch sử, một phần vì trách nhiệm với giang sơn xã tắc. Nào là miếu Triệu Tường, đình Gia Miêu, lăng Trường Nguyên, đền Quan hoàng Triệu Tường... tất cả đều đã phủ màu bàng bạc của thời gian, nhưng chuyện về những người trong dòng họ Nguyễn thì vẫn luôn hiện hữu.
Ông Nguyễn Đình Luận chẳng khác gì một thuyết minh viên. Lịch sử vương triều Nguyễn, cuộc đời các chúa Nguyễn, cây gia phả các chi họ Nguyễn Đình, Nguyễn Hữu, Nguyễn Văn ở đây, ông tỏ tường lắm. “Tôi con cháu vua chúa mà, không thuộc gốc tích của mình khác nào cái cây mà rễ không chắc bám, nghiêng ngả lúc nào không biết”. Ông tự hào nói và giới thiệu: Chỉ sau một năm vua Nguyễn Ánh lên ngôi (1802-1820), lấy niên hiệu là Gia Long thì cho xây miếu để thờ tổ tiên nhà Nguyễn. Sau nhiều lần hội thảo, khu lăng miếu Triệu Tường được công nhận di tích cấp quốc gia năm 2007. Đến năm 2009, các ngành chức năng cho khảo cổ lại nền móng xưa. Từ năm 2011 đến ngày 25/12/2018 miếu được xây và chính thức khánh thành.
Miếu gồm hai công trình là nguyên miếu hay miếu chính thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế (Nguyễn Kim) ở gian giữa và Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế (Nguyễn Hoàng) ở gian bên tả; nằm về phía Đông của miếu chính là nơi thờ Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu (thân phụ Nguyễn Kim) và Nguyễn Hán (con trai của Nguyễn Hoàng). Toàn bộ công trình đều nhìn về phương Nam. Hàng năm, gặp tiết ngũ hưởng và các tiết khác theo quy định của triều đình, quan tỉnh Thanh Hóa vâng mệnh hành lễ theo lệ như các miếu ở Kinh thành Huế. Đồng thời, nhiều vua nhà Nguyễn như Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Thành Thái, Khải Định sau khi lên ngôi đã về dâng hương, bái yết tổ tiên.
Nhiều người vẫn nghĩ Triệu Tường là tên một địa danh. “Triệu là mở, tường là tốt đẹp. Nghĩa đầy đủ là mở ra một vương triều tốt đẹp. Chính vì thế tôi không đồng ý với quan điểm miếu Triệu Tường như “kinh thành Huế thu nhỏ”. Đúng hơn phải nói kinh thành Huế không khác gì “miếu Triệu Tường mở rộng”. Xét về mặt thời gian, miếu Triệu Tường được xây dựng trước 3 năm. Chẳng riêng gì ông Luận, gặp ai người làng/thôn Gia Miêu, họ cũng tự hào sinh ra ở đất này, là con cháu các cụ, thuộc dòng dõi hoàng tộc.
Men theo con Quốc lộ 217B, chúng tôi vào thăm đình Gia Miêu, nơi thờ Thành hoàng làng Nguyễn Công Duẩn - Bình Ngô khai quốc công thần triều Hậu Lê, được vua Lê Thái Tổ phong làm Thái Bảo Hoành Quốc Công. Đình làng được vua Gia Long cho xây dựng vào năm 1804, cùng thời với việc xây dựng miếu Triệu Tường. Nhắc đến đình Gia Miêu thì phải nhắc đến một công trình kiến trúc nghệ thuật bề thế với nhiều mảng chạm khắc, trang trí cầu kỳ. Những mảng chạm khắc này được thể hiện ở vì nóc, đầu các xà đai, kẻ bẩy, đường diềm... Ngoài ra, các linh vật như rồng, lân, rùa... cũng được trang trí hết sức công phu, tinh tế, những con hươu, chim sẻ, thạch sùng, cũng được điểm xuyết trên các bức cốn mê hay kẻ bẩy. Song linh hồn, quy ước của làng chính là bản hương ước xuất hiện từ hàng trăm năm trước, khi Gia Miêu còn là trang: Gia Miêu ngoại trang.
Trong bản hương ước của làng Gia Miêu có một khoản quy định, trai đinh của làng, bất kể sang hèn, bất kể giàu nghèo, bất kể làm ăn gần xa nơi đâu, hàng năm vào dịp tết phải về dâng hương tham dự lễ tế Thành hoàng, nếu ai sao nhãng sẽ bị làng căn cứ vào nội dung trong hương ước phạt vạ. Hương ước làng nghiêm tới nỗi, theo như lời kể của các cụ ở làng, vào năm Thiệu Trị thứ 9, không hiểu nguyên do vì sao mà nhà vua lại không xa giá về quý hương tế Thành hoàng, tế miếu tổ. “Chiểu” vào các khoản mục trong hương ước, làng đã cử một “phái bộ” gồm sáu mươi cụ bô lão đi bộ từ Gia Miêu vào kinh thành Huế trình lên đức vua bản hương ước. Nhà vua phải đích thân đến quán xá (nhà khách) thăm hỏi các cụ và tạ lỗi. Ngài tự nhận rằng, vì bận việc nước mà ngài đã trót sao nhãng trách nhiệm “trai đinh” của làng. Tạ lỗi rồi nhà vua cho thuê một người về Gia Miêu làm mõ cho làng sáu tháng để chuộc cái lỗi do... sơ suất.
Đến nay, đình Gia Miêu vẫn là nơi người dân làng tụ họp vào những ngày quan trọng, vẫn là chốn linh thiêng để con cháu ở xa ngưỡng vọng và nhớ về.
Cách đình Gia Miêu gần 1km, chúng tôi đến lăng Trường Nguyên. Chỉ riêng câu chuyện về việc xây lăng, đưa di hài Nguyễn Kim lên núi Thiên Tôn cũng đã vô cùng kỳ bí. Ông Nguyễn Đình Luận nói với chúng tôi: Năm Ất Tỵ 1545, cụ Nguyễn Kim khi đó đã 78 tuổi, bị Dương Chấp Nhất là tướng của nhà Mạc đầu độc chết. Vua Lê thương tiếc, truy ban tước Chiêu Huân Tĩnh công. Thi hài ông được đưa về táng ở núi Triệu Tường. Tương truyền, khi quân lính vừa đặt quan tài Nguyễn Kim xuống huyệt, bỗng đâu trời nổi cơn sấm sét, mưa gió ầm ầm, miệng huyệt từ từ khép lại, khiến mọi người kinh hãi chạy xuống núi. Một lát sau trời quang mây tạnh, quân lính trở lại thì chỉ thấy nơi đặt quan tài đá núi lô nhô, trùng điệp, cây cỏ tốt tươi, không biết mộ táng nơi nào. Các thầy phong thủy cho rằng đó là điềm lành, trời “táng” cụ rồi. Sau này con cháu bảo nhau là cụ đã được thiên táng. Và núi có tên là Thiên Tôn từ đấy. Về sau, mỗi lần tế bái Triệu tổ, các vua nhà Nguyễn chỉ biết trông lên núi Thiên Tôn mà bái vọng.

Miếu Triệu Tường - “nơi phát phúc” của hoàng tộc Nguyễn.
Nói về khoa học thì do mưa to gió lớn, sụt lở đất đá, nhưng nói về tâm linh thì những điều dự đoán đều đúng sau này. Và con cháu cụ đã duy trì 9 đời chúa, 13 đời vua, một trong những vương triều có niên đại dài nhất trong lịch sử Việt Nam.
Đứng trong không gian lăng Trường Nguyên, ngắm nhìn bức tường khắc bản dịch bài minh bằng chữ Hán của vua Minh Mạng: “Đất lớn chúa thiêng sinh ra Triệu Tổ/ Vun đắp cương thường nêu rạng thánh võ” càng thấu hiểu đất thiêng sinh ra nhân kiệt là lẽ đương nhiên.
Một ngày ở Gia Miêu chắc chắn không thể tìm hiểu hết về mảnh đất quê hương của 9 chúa, 13 vua vương triều Nguyễn: bắt đầu từ 1558, kết thúc năm 1945, kéo dài 387 năm. Cũng như chúng tôi, đã quên đi cái lạnh lẽo của thời tiết mà lắng nghe bao chuyện hư hư thực thực mà con cháu dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu kể lại. Những công trạng của các chúa Nguyễn vẫn còn lại với thời gian và cần được các thế hệ gìn giữ, phát huy với niềm trân quý đối với các bậc tiền nhân đã mở cõi tạo nên dáng hình Tổ quốc hôm nay. Rời thôn Gia Miêu, tôi cứ miên man nghĩ về miền địa linh nhân kiệt và hy vọng rằng, sẽ không lâu nữa, sau khi Miếu Triệu Tường hoàn thành việc tôn tạo giai đoạn 2, sẽ có một tour du lịch qua miền văn hóa lịch sử về nơi phát tích vương triều Nguyễn.
Bài viết sử dụng tư liệu sách: Gần 400 năm vua chúa triều Nguyễn (Lương Kim Thành, NXB Thuận Hóa, 2011); Chín chúa mười ba đời vua Nguyễn (Nguyễn Đắc Xuân, NXB Thuận Hóa, 2015); Theo dòng triều Nguyễn (Tôn Thất Thọ, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2020) và một số tài liệu khác.
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/mot-ngay-o-gia-mieu-275691.htm











