Mục tiêu GDP cao đặt ngành điện trước bài toán mở rộng tăng trưởng
Tiếp nối đà bứt phá ấn tượng của năm 2025, nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức hai con số. Cùng với đó là bài toán then chốt về năng lượng, đặc biệt là điện năng. Điều này sẽ tạo ra dư địa phát triển lớn cho các doanh nghiệp trong toàn chuỗi giá trị ngành điện: PV Power, PV Power NT2, PC1, TV2, REE...

Năm 2026 được xem là bước ngoặt với PV Power khi cụm nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào vận hành.
Tăng trưởng GDP cao và cú hích từ thể chế
Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, GDP năm 2025 tăng trưởng 8,02%, mức cao nhất trong giai đoạn 2011-2025 nếu loại trừ năm 2022 - năm có yếu tố phục hồi mạnh từ mức nền thấp do đại dịch Covid-19. Đây là kết quả phản ánh sự phục hồi đồng đều của sản xuất công nghiệp, xây dựng, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
Tuy nhiên, trái với đà tăng trưởng kinh tế, sản lượng điện năm 2025 lại tăng khá khiêm tốn. Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống ước đạt 287,9 tỷ kWh, chỉ tăng 4,9% so với năm trước. Nguyên nhân do thời tiết năm 2025 không quá nắng nóng, nền nhiệt trung bình thấp hơn so với năm 2024, đồng thời không xuất hiện các đợt thiên tai cực đoan kéo dài làm bùng nổ nhu cầu điện. Bên cạnh đó, điện mặt trời tự sản - tự tiêu tiếp tục tăng trưởng mạnh, với sản lượng ước đạt khoảng 10 tỷ kWh, tương đương gần 4% tổng sản lượng điện toàn hệ thống, qua đó làm giảm phần điện thương phẩm phải huy động từ lưới.
Về cơ cấu huy động nguồn điện trong năm 2025, điện than vẫn đóng vai trò chủ đạo khi chiếm khoảng 48% tổng sản lượng, tiếp đến là thủy điện với 31%, năng lượng tái tạo (điện gió, mặt trời, sinh khối…) chiếm 13%, trong khi điện khí chỉ chiếm khoảng 6%. Dù điện than vẫn là trụ cột, tỷ trọng nguồn này đã có xu hướng giảm do thủy điện được huy động mạnh nhờ điều kiện thủy văn thuận lợi trong năm.
Bước sang năm 2026, triển vọng tăng trưởng điện được đánh giá tích cực. Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3477/QĐ-BCT phê duyệt phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia năm 2026. Theo phương án cơ sở, tổng sản lượng điện toàn hệ thống dự kiến đạt 350 tỷ kWh, tăng 8,5% so với năm 2025. Trong các kịch bản dự phòng, sản lượng điện có thể lên tới 360 tỷ kWh (tăng 11,6%) hoặc thậm chí 368 tỷ kWh (tăng 14%) nếu nhu cầu phụ tải tăng cao hơn dự kiến.
Sản lượng huy động thực tế của từng nhà máy sẽ phụ thuộc vào công tác điều độ, vận hành hệ thống, giá điện và cơ chế thị trường. Do đó, các đơn vị phát điện được yêu cầu chủ động thu xếp nhiên liệu sơ cấp (than, khí, dầu) cho nhu cầu phát điện năm 2026.
Giai đoạn 2026-2027 được xem là cao điểm bổ sung công suất nguồn điện, với khoảng 6 GW công suất mới từ các dự án điện than và LNG quy mô lớn. Đáng chú ý, cụm dự án Nhơn Trạch 3 và 4 đã lần lượt vận hành thương mại vào tháng 11 và tháng 12/2025, đánh dấu bước ngoặt trong phát triển điện khí LNG tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, Nhà máy Nhiệt điện (NMNĐ) Vũng Áng 2 đã vận hành tổ máy số 1; dự án NMNĐ Quảng Trạch 1 đạt 95% tiến độ EPC và dự kiến COD trong năm 2026; dự án NMNĐ Long Phú 1 dự kiến lắp đặt lò hơi số 1 vào tháng 5/2026 và vận hành trong năm 2027; dự án NMNĐ LNG Quảng Trạch 2 đang trong giai đoạn đấu thầu EPC. Việc các dự án này lần lượt đi vào hoạt động sẽ tạo nền tảng quan trọng để đáp ứng nhu cầu điện tăng mạnh trong giai đoạn tới.

Phối cảnh NMNĐ LNG Quảng Trạch 2.
Về yếu tố thời tiết, Viện Nghiên cứu Quốc tế về Xã hội và Khí hậu (IRI) dự báo trạng thái trung lập sẽ chiếm ưu thế trong nửa đầu năm 2026, với xác suất lên tới 78% vào tháng 4/2026. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia dự báo, nhiệt độ giai đoạn tháng 5 - 7/2026 có khả năng cao hơn trung bình nhiều năm, trong khi nắng nóng tại miền Nam dự kiến bắt đầu từ tháng 3, Trung Bộ và Bắc Bộ từ tháng 4, với cường độ gay gắt hơn năm 2025.
Ở phía cung nhiên liệu, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) lên kế hoạch cung cấp khoảng 42 triệu tấn than cho sản xuất điện trong năm 2026, đồng thời nhập khẩu khoảng 11 triệu tấn. Riêng nhu cầu của các nhà máy điện than EVN duy trì quanh mức 28,7 triệu tấn/năm theo các thỏa thuận dài hạn.
Một điểm nhấn quan trọng khác là các nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia đã tháo gỡ hàng loạt nút thắt thể chế. Quy trình cập nhật quy hoạch linh hoạt hơn, cho phép thay thế các dự án chậm tiến độ và bổ sung các công nghệ mới như hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS). Thủ tục đầu tư được đơn giản hóa khi các dự án đã nằm trong quy hoạch được miễn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Bên cạnh đó, cơ chế đặc thù cho điện gió ngoài khơi và việc mở rộng mua bán điện trực tiếp (DPPA) cũng tạo động lực mạnh mẽ cho khu vực tư nhân và doanh nghiệp lớn tham gia sâu hơn vào thị trường điện.
Đây là bước đột phá về mặt thủ tục, giúp đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án điện, giải quyết tình trạng “nghẽn” quy hoạch - đầu tư kéo dài nhiều năm qua.
Nhu cầu ngành điện bước vào chu kỳ tăng trưởng mới
Chứng khoán VCBS nhận định, mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% trong trung hạn kéo theo yêu cầu rất lớn về điện năng. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nhu cầu điện thương phẩm năm 2030 dự kiến đạt 500,4 - 557,8 tỷ kWh, tăng khoảng 20 - 30% so với năm 2025. Để đáp ứng nhu cầu này, tổng công suất nguồn điện phải đạt 150.489 MW vào năm 2030, đồng nghĩa hệ thống phải bổ sung thêm khoảng 50.000 MW chỉ trong vài năm.
Trong bối cảnh đó, năm 2026 được xem là bước ngoặt với PV Power (POW) khi cụm nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào vận hành. VCBS dự phóng doanh thu POW năm 2026 có thể tăng 53% so với năm trước.
Bên cạnh đó, NT2 nổi lên như điểm sáng về dòng tiền khi đã hết khấu hao từ quý IV/2025. Chi phí cố định giảm mạnh giúp lợi nhuận năm 2026 dự kiến tăng 22%, duy trì khả năng chi trả cổ tức tiền mặt hấp dẫn khoảng 2.000 đồng/cổ phiếu.
Ở mảng năng lượng tái tạo, REE và PC1 được hưởng lợi từ cơ chế DPPA. REE dự kiến có thêm 3 dự án điện gió mới vận hành trong năm 2026, trong khi PC1 bước vào năm mới với backlog kỷ lục hơn 8.000 tỷ đồng, doanh thu mảng xây lắp tăng 11%. Bên cạnh đó, TV2 cũng được kỳ vọng tăng trưởng đột biến nhờ trúng thầu gói EPC dự án Ô Môn 4, còn GELEX giữ vai trò “cửa ngõ” ngành điện với mảng thiết bị và hạ tầng khu công nghiệp.
Tăng trưởng GDP cao đang mở ra chu kỳ tăng trưởng mới cho ngành điện Việt Nam. Dù vẫn còn những thách thức về chi phí, tiến độ và cơ chế giá, bức tranh dài hạn của các doanh nghiệp điện từ phát điện, xây lắp đến thiết bị đang sáng lên rõ rệt khi nhu cầu điện trở thành một trong những động lực trung tâm của tăng trưởng kinh tế.












