Nâng mức hỗ trợ thanh niên xung phong cơ sở miền Nam mất sức lao động lên 1.080.000 đồng/tháng
Theo quy định mới của Chính phủ, thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 2 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội theo quy định hiện hành (mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng).

Tăng trợ cấp đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam. Ảnh minh họa - QĐND
Theo đó, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 388/2026/NĐ-CP ngày 13/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2017/NĐ-CP ngày 6/10/2017 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975.
Đáng chú ý, về chế độ trợ cấp hằng tháng, Điều 5 Nghị định 112/2017/NĐ-CP quy định thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được xét trợ cấp hằng tháng mức 540.000 đồng.
Mức trợ cấp nêu trên sẽ được điều chỉnh tương ứng khi Chính phủ điều chỉnh mức trợ cấp hằng tháng đối với thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến quy định tại Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Mức trợ cấp trên được điều chỉnh tại Nghị định 388/2026/NĐ-CP như sau: Thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 2 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội theo quy định hiện hành.
Theo Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội, mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng.
Đơn giản hóa thủ tục, được nộp hồ sơ trợ cấp trực tuyến
Bên cạnh đó, Nghị định sửa đổi, bổ sung Điều 9 về quy trình và thời hạn giải quyết chế độ trợ cấp một lần, chế độ trợ cấp hằng tháng.
Theo đó, đối tượng đề nghị hưởng chính sách hoặc thân nhân của đối tượng (trường hợp đối tượng đã chết) nộp 1 bộ hồ sơ theo quy định bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú.
Trường hợp các thành phần hồ sơ, giấy tờ của người dân kèm theo bản khai đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc Cơ sở dữ liệu chuyên ngành và đã được kết nối, chia sẻ với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết không yêu cầu người nộp hồ sơ cung cấp hoặc nộp lại các giấy tờ này khi thực hiện thủ tục hành chính.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, phân loại, kiểm tra hồ sơ, tổ chức hội nghị để xác định những đối tượng đủ điều kiện và lập biên bản xác nhận hồ sơ xét hưởng chế độ trợ cấp theo Mẫu số 5 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc hội nghị xét duyệt hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm công khai kết quả theo Mẫu số 6A tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; đăng tải trên Cổng thông tin điện tử và thông báo trên Đài truyền thanh cấp xã trong 05 ngày làm việc.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Hội Cựu thanh niên xung phong, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cùng cấp và các cơ quan, đơn vị liên quan hoàn thành việc thẩm định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định hưởng chế độ trợ cấp theo Mẫu số 8, 9, 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
