Nâng tầm đối ngoại với tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực tự cường và tự hào dân tộc

Trong bối cảnh hiện nay, các cán bộ ngoại giao, cũng như mỗi người dân Việt Nam cần phải xác định rõ tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và tự hào dân tộc, từ đó thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình một cách chủ động, sáng tạo và hiệu quả để đóng góp vào sự phát triển đất nước.

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra yêu cầu với công tác đối ngoại: Không chỉ "nâng tầm" mà phải "tương xứng với tầm vóc"; "không chỉ hội nhập sâu" mà còn "phát huy sức mạnh văn hóa, lịch sử, giá trị Việt Nam" để tăng ảnh hưởng quốc tế; không chỉ là đối ngoại "vì Việt Nam" mà còn "đóng góp cho hòa bình, phát triển chung của nhân loại".

Theo Đại sứ Bùi Thế Giang, nguyên Phó trưởng Phái đoàn Đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, nguyên Vụ trưởng Vụ Tây Âu - Bắc Mỹ của Ban Đối ngoại Trung ương, khi đặt vấn đề “nâng tầm để tương xứng với tầm vóc” của nước ta thì cũng có người băn khoăn là: nâng đến mức nào, nâng bao nhiêu là đủ, và tiêu chí nào để xác định đã tương xứng với tầm vóc quốc gia?

“Tầm vóc đó không chỉ là quy mô phát triển kinh tế, mà còn là chiều sâu văn hóa, giá trị lịch sử, bản sắc Việt Nam, cũng như khả năng đóng góp của chúng ta vào hòa bình, hợp tác và phát triển chung của nhân loại. Những yêu cầu đó, theo tôi, đều rất thỏa đáng, phù hợp và mang tính chính xác cao”, Đại sứ Bùi Thế Giang nói.

Giáo sư Carl Thayer tại Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales cho rằng, sở dĩ Việt Nam có thể đặt mục tiêu “đóng góp cho hòa bình và phát triển chung của nhân loại” là vì chính sách chủ động hội nhập quốc tế trước đây đã đạt nhiều thành tựu. Việt Nam hiện là nước có thu nhập trung bình thấp và có đủ nguồn lực cũng như kinh nghiệm ngoại giao để đóng vai trò xây dựng trên trường quốc tế.

Khả năng tạo dựng ảnh hưởng quốc tế của Việt Nam được phản ánh trong Chỉ số Quyền lực châu Á 2025 do Viện Lowy công bố. Việt Nam xếp thứ 12/27 quốc gia được khảo sát về Quyền lực Tổng hợp, đứng thứ 9 trong số 15 nước tầm trung ở châu Á - Thái Bình Dương. Đáng chú ý, Việt Nam đứng thứ hai về mức tăng thứ bậc so với năm 2024.

Chỉ số này đo lường 8 nhóm năng lực: năng lực kinh tế, năng lực quân sự, khả năng chống chịu, nguồn lực tương lai, quan hệ kinh tế, mạng lưới quốc phòng, ảnh hưởng ngoại giao và ảnh hưởng văn hóa. Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước hàng đầu ở 3 lĩnh vực: quan hệ kinh tế (thứ 7), ảnh hưởng ngoại giao (thứ 8) và nguồn lực tương lai (thứ 10).

Chỉ số cũng đưa ra thước đo mới về “ngoại giao kinh tế”, đánh giá mức độ hiệu quả trong việc thúc đẩy lợi ích kinh tế quốc gia trên toàn cầu. Việt Nam đứng thứ 4, sau Trung Quốc, Singapore và Nhật Bản.

Giáo sư Thayer nói: “Lịch sử đã hình thành các giá trị cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam như độc lập, tự chủ, hợp tác và phát triển, tự cường chiến lược, đa phương hóa, và thượng tôn luật pháp quốc tế. Những giá trị này được củng cố bởi chính sách quốc phòng “ba không”, sau được mở rộng thành “bốn không” trong Sách trắng Quốc phòng 2019”.

“Tổng thể, các giá trị đối ngoại của Việt Nam có sức hấp dẫn đối với các nước đang phát triển thuộc khu vực Nam bán cầu. Điều này thể hiện ở việc Việt Nam hai lần được Nhóm châu Á - Thái Bình Dương tại Đại hội đồng Liên hợp quốc nhất trí đề cử làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an”, Giáo sư Thayer kết luận.

GS.TS Vũ Dương Huân, nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao đánh giá, nhiệm vụ của mặt trận đối ngoại hiện nay có vai trò cực kỳ quan trọng và cũng vô cùng nặng nề. Thực hiện thành công nhiệm vụ đó không phải việc dễ dàng, mà đòi hỏi quyết tâm, đường hướng rõ ràng, chương trình cụ thể và những đề án thiết thực. Theo đó, việc đổi mới nhận thức là bước đầu tiên và then chốt.

Trước hết, theo GS.TS Vũ Dương Huân, cần nhận thức rõ về bối cảnh quốc tế, về môi trường và thời cuộc mà Việt Nam đang đứng trong đó, để từ đó định hình đường lối, chính sách sao cho đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại. Việc đổi mới này không chỉ bao gồm việc nắm bắt các xu thế phát triển, cơ hội và thách thức của thế giới, mà còn liên quan đến nhận thức về vị thế của Việt Nam.

Theo dự báo của Việt Nam, quy mô kinh tế của quốc gia dự kiến sẽ đạt trên 510 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN. Còn theo số liệu ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), quy mô kinh tế của Việt Nam ước đạt 491 tỷ USD trong năm 2025, xếp thứ 34 trên thế giới, và xếp thứ 5 trong khu vực ASEAN. Đáng chú ý, các chuyên gia IMF dự báo, đến năm 2029, với quy mô GDP dự kiến đạt 666,5 tỷ USD, Việt Nam sẽ chính thức vượt Thái Lan (với quy mô được dự báo khoảng 616 tỷ USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á, và lớn thứ 32 trên thế giới, sau các quốc gia như Indonesia, Philippines và Singapore.

Tầm cỡ và vị thế của quốc gia quyết định khả năng triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại. Nếu không nhận thức được vị thế hiện tại và mục tiêu phát triển quốc gia, chúng ta sẽ không thể định hướng và triển khai chính sách đối ngoại một cách chính xác, đúng đắn và hiệu quả.

GS.TS Vũ Dương Huân nói: “Với vị thế Việt Nam là một quốc gia tầm trung, đường lối ngoại giao của chúng ta sẽ khác với ngoại giao của các nước vừa và nhỏ. Ngoại giao của quốc gia tầm trung có một số đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, coi trọng ngoại giao đa phương, phát huy vai trò trung gian, hòa giải, đóng góp vào hòa bình và ổn định trên thế giới. Thứ hai, quốc gia tầm trung còn phải tham gia ngoại giao phát triển và thực hiện những đóng góp có ý nghĩa trong các lĩnh vực chuyên biệt mà quốc gia có thế mạnh, gọi là ngoại giao chuyên biệt, tức là tập trung vào những lĩnh vực mà nền ngoại giao của Việt Nam có thể đóng góp tốt nhất cho cộng đồng quốc tế, tạo uy tín và vị thế trên trường quốc tế”.

Như vậy, ngoại giao Việt Nam cần đổi mới nhận thức về tình hình thế giới, để hiểu rõ những thuận lợi, khó khăn, thách thức cũng như xu thế phát triển, từ đó đi cùng nhịp với thời đại. Đồng thời, phải đổi mới nhận thức về vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nhận biết đúng tầm vóc và vai trò của đất nước, nhằm định hướng và chuyển hướng chính sách đối ngoại phù hợp, hiệu quả”.

Có chung quan điểm về nhiệm vụ nâng tầm đối ngoại, PGS.TS Dương Văn Quảng - nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao cho biết: “Bước đầu tiên là toàn bộ hệ thống chính trị phải nhận thức đầy đủ về vai trò của công tác đối ngoại: hiểu đúng tầm quan trọng, nhiệm vụ cần thực hiện và vị trí của từng cơ quan, từng cá nhân trong hệ thống”.

Tiến sĩ Vũ Ngọc Lương - Trưởng Khoa Lịch sử Đảng Học viện Báo chí Tuyên truyền thì cho rằng, cần tiếp tục nhận thức rõ và thống nhất hành động rằng đối ngoại, hội nhập quốc tế không phải là nhiệm vụ riêng của ngành ngoại giao mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và địa phương.

Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, để thực hiện các mục tiêu đề ra trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thì cần nhất quán về chính sách đối ngoại, theo hướng đóng góp vào hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển, dựa trên luật pháp quốc tế, nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Việt Nam vừa giữ vững độc lập, tự chủ, vừa trở thành bạn, đối tác tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Sự nhất quán này chính là nền tảng tạo nên vị thế quốc tế vững chắc và uy tín của Việt Nam trên trường toàn cầu.

“Phải coi đối ngoại như một cột trụ cốt lõi của an ninh quốc gia và phát triển bền vững. Khi sức mạnh mềm được phát huy tối đa, nó sẽ trở thành ‘lá chắn’ bảo vệ đất nước trước những biến động khó lường, đồng thời là ‘đòn bẩy’ để nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, TS Vũ Ngọc Lương nhận định.

Những điểm mới trong đối ngoại hiện nay cần được nhận diện rõ ràng, Đại sứ Phạm Quang Vinh lưu ý. Thứ nhất, Việt Nam không chỉ đi theo và tranh thủ các cơ hội thuận lợi từ môi trường quốc tế, mà còn phải chủ động kiến tạo các cơ chế quản trị toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh sự xói mòn hợp tác đa phương và các quy tắc dựa trên luật pháp quốc tế.

Thứ hai, xuất hiện nhiều lĩnh vực mới và lỗ hổng quản trị, như trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, big data, đòi hỏi Việt Nam phải trực tiếp tham gia và cùng các nước xây dựng bộ quy tắc quản trị quốc tế, thay vì chỉ chờ đợi.

Thứ ba, khu vực Đông Nam Á trong châu Á – Thái Bình Dương vừa là động lực tăng trưởng năng động, vừa là trọng điểm xung yếu của cạnh tranh quốc tế. Điều này vừa mang lại cơ hội hợp tác và đầu tư, nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức, như sức ép chiến lược từ các nước lớn, đòi hỏi Việt Nam phải vừa chủ động bảo vệ tự chủ, vừa tham gia hợp tác khu vực và quốc tế để bảo đảm lợi ích và đóng góp vào an ninh, ổn định toàn cầu.

GS.TS Vũ Dương Huân cho rằng, bước tiếp theo cần làm là huy động cả hệ thống chính trị, trong đó ngoại giao Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, để triển khai thành công các nhiệm vụ mà Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị (ban hành tháng 1/2025) đã đề ra về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Ngoại giao phải sử dụng mọi lực lượng để thực hiện hiệu quả nghị quyết này, đồng thời phối hợp với các lĩnh vực khác của hệ thống chính trị. Điều này bao gồm việc triển khai các nghị quyết quan trọng khác như Nghị quyết 18 về cải cách hành chính, Nghị quyết 57 về đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết 66 là đổi mới về xây dựng hệ thống luật pháp, hay nghị quyết 68 là coi trọng kinh tế tư nhân và nhiều những nghị quyết khác liên quan,... nhằm hướng tới mục tiêu đến giữa thế kỷ, Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Để đạt được mục tiêu này, ngoại giao phải phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp và toàn bộ hệ thống chính trị, triển khai các nghị quyết một cách đồng bộ và hiệu quả.

PGS.TS Dương Văn Quảng - nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao nói: “Cần xác định rõ các chính sách, biện pháp và điều kiện để thực hiện nhiệm vụ đó. Đặt ra yêu cầu mà không cung cấp phương tiện, điều kiện thực hiện sẽ khó khả thi. Điều này bao gồm cả các kế hoạch, bước đi cụ thể, nhiệm vụ của từng thành viên trong hệ thống chính trị, và đặc biệt là việc tạo điều kiện vật chất, tài chính cho công tác đối ngoại”.

Theo Đại sứ Bùi Thế Giang, khi nhiệm vụ nâng tầm đối ngoại đã được đưa vào văn kiện Đại hội Đảng – văn kiện mang tính chất chỉ đạo cao nhất của Đảng thì yêu cầu đặt ra là toàn bộ hệ thống chính trị phải quán triệt và triển khai nghiêm túc. Nghĩa là “nhà nhà, người người”, đặc biệt là những người làm công tác đối ngoại, đều phải hiểu rõ tinh thần này thì mới có thể thực hiện hiệu quả.

“Chính đội ngũ cán bộ đối ngoại cũng phải tự nâng mình lên: từ trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tư duy chiến lược cho đến kỹ năng tham mưu, năng lực nòng cốt khi triển khai nhiệm vụ”, ông Bùi Thế Giang nói.

Cùng chung quan điểm, ông Dương Văn Quảng đánh giá, nếu không có đội ngũ cán bộ đủ năng lực, kinh nghiệm và chuyên môn thì mọi chính sách, kế hoạch hay phương tiện đều không thể phát huy hiệu quả.

“Chúng ta có thể ban hành nhiều chính sách, nhưng nếu cán bộ không đủ năng lực thì cũng khó thực hiện được. Công tác đối ngoại đòi hỏi những kỹ năng riêng biệt, khác với đối nội, khác với luật pháp hay các lĩnh vực chuyên môn khác. Khi hội nhập quốc tế, cán bộ phải ứng phó với nhiều vấn đề quốc tế, từ kinh tế, thuế, thương mại đến các vấn đề liên văn hóa – vốn ít được đề cập và ít được đào tạo bài bản.

Ví dụ, khi xuất khẩu nông sản, sản phẩm phải được chế biến theo chuẩn mực của nước nhập khẩu. Hay trong lĩnh vực y tế, cán bộ ngoại giao cần kỹ năng mềm, hiểu văn hóa, biết ngoại ngữ và biết cách tiếp xúc hiệu quả. Đây là những kỹ năng thiết thực, cụ thể, đòi hỏi thời gian, công sức và sự kiên trì để rèn luyện, không chỉ là lễ tân hay hình thức mà là kiến thức và kỹ năng chuyên sâu trong công tác đối ngoại”, PGS.TS Dương Văn Quảng nói.

Tựu chung lại, để thực hiện vai trò trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại trong kỷ nguyên mới, cần tập trung vào ba yếu tố cốt lõi: nhận thức đầy đủ về vai trò đối ngoại, chính sách và biện pháp rõ ràng, và đào tạo cán bộ về kỹ năng đối ngoại chuyên môn. Ba trụ cột này là điều kiện tiên quyết để phát huy hiệu quả công tác đối ngoại của đất nước trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Bên cạnh đó, về mặt tinh thần, ngành ngoại giao cần cùng cả nước nâng cao khát vọng vươn lên. Các cán bộ ngoại giao, cũng như mỗi người dân Việt Nam cần phải xác định rõ tinh thần tự chủ: kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây dựng nền ngoại giao hiện đại, linh hoạt, dựa trên tinh thần "dĩ bất biến ứng vạn biến", hòa hiếu; tự tin; tự lực; tự cường và tự hào dân tộc, từ đó thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình một cách chủ động, sáng tạo và hiệu quả trong bối cảnh mới của thế giới, đóng góp vào sự phát triển đất nước.

Nguồn VOV: https://vov.vn/chinh-tri/nang-tam-doi-ngoai-voi-tinh-than-tu-chu-tu-tin-tu-luc-tu-cuong-va-tu-hao-dan-toc-post1259272.vov