Nếu không thể chuyển hóa thành năng lực phát triển thì có tri thức cũng không mấy ý nghĩa

Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó khoa học và công nghệ phải trở thành trung tâm kích hoạt đột phá năng suất và sáng tạo giá trị mới.

Để đạt mục tiêu này, điều cốt lõi là xây dựng và phát triển năng lực chuyển hóa quốc gia, biến tri thức khoa học thành năng lực công nghệ và động lực tăng trưởng dài hạn.

Trong phát triển hiện đại, khoa học và công nghệ không còn được đánh giá chủ yếu bằng số lượng bài báo khoa học hay thứ hạng học thuật, mà bằng khả năng một quốc gia chuyển hóa tri thức thành năng lực phát triển thực chất. Thực tế cho thấy nhiều quốc gia có đội ngũ khoa học giỏi, ngân sách nghiên cứu không nhỏ và mức độ hội nhập quốc tế cao, nhưng vẫn mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình. Nguyên nhân sâu xa không phải do thiếu tri thức, mà do thiếu năng lực chuyển hóa quốc gia.

Năng lực chuyển hóa quốc gia có thể được hiểu là khả năng của toàn bộ hệ thống trong việc biến tri thức khoa học thành tài sản công nghệ có thể tích lũy, học hỏi và tái đầu tư, qua đó hình thành lợi thế công nghệ và động lực tăng trưởng dài hạn. Ở những quốc gia sở hữu năng lực này, nghiên cứu khoa học không dừng lại ở phòng thí nghiệm hay các công bố học thuật, mà được chuyển tiếp thành bằng sáng chế, hệ thống bằng sáng chế liên kết, chuỗi ứng dụng công nghiệp và cuối cùng là năng lực cạnh tranh quốc gia.

Năng lực chuyển hóa quốc gia có thể được hiểu là khả năng của toàn bộ hệ thống trong việc biến tri thức khoa học thành tài sản công nghệ có thể tích lũy, học hỏi và tái đầu tư, qua đó hình thành lợi thế công nghệ và động lực tăng trưởng dài hạn. Ở những quốc gia sở hữu năng lực này, nghiên cứu khoa học không dừng lại ở phòng thí nghiệm hay các công bố học thuật, mà được chuyển tiếp thành bằng sáng chế, hệ thống bằng sáng chế liên kết, chuỗi ứng dụng công nghiệp và cuối cùng là năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thực tiễn này thể hiện rõ ở những quốc gia đã tổ chức thành công hệ thống đổi mới sáng tạo ở cấp quốc gia. Tại đó, kết quả nghiên cứu từ các trường đại học và viện nghiên cứu nhanh chóng được chuyển hóa thành tài sản sở hữu trí tuệ, được mở rộng và tích hợp một cách có hệ thống vào các chuỗi ứng dụng trong sản xuất, quốc phòng và kinh tế số.

Nhờ quá trình tích lũy và tái đầu tư liên tục, tri thức không bị phân tán theo từng dự án riêng lẻ, mà dần kết tinh thành năng lực công nghệ quốc gia, tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững và động lực tăng trưởng vượt ra ngoài một chu kỳ công nghệ hay một giai đoạn chính sách.

Tri thức chỉ thực sự trở thành năng lực phát triển khi được đo lường bằng các chỉ báo rõ ràng và được sở hữu dưới dạng tài sản trí tuệ có thể tích lũy. Tri thức đó phải được kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp và các mục tiêu chiến lược dài hạn của quốc gia. Thông qua các vòng phản hồi học hỏi liên tục, mỗi kết quả nghiên cứu lại trở thành đầu vào cho những cải tiến và ứng dụng tiếp theo, tạo nên quá trình học hỏi mang tính hệ thống.

Ngược lại, khi thiếu năng lực chuyển hóa, khoa học và công nghệ vận hành một cách phân mảnh. Đại học tập trung vào công bố nghiên cứu, doanh nghiệp chủ yếu nhập khẩu công nghệ, còn Nhà nước thiếu công cụ để tích lũy năng lực nội sinh. Hệ quả là tri thức có thể gia tăng, nhưng năng lực công nghệ quốc gia không dày lên tương xứng. Quốc gia có thể ngày càng hiểu thế giới rõ hơn, nhưng lại không đủ khả năng định hình và sở hữu tương lai của chính mình.

Kỳ tích phát triển sẽ không đến từ những bước nhảy ngắn hạn hay các giải pháp tình thế, mà từ một quá trình chuyển hóa khoa học và công nghệ kiên định, có tổ chức và có tích lũy.

Điểm then chốt của năng lực chuyển hóa quốc gia không nằm ở việc ban hành thêm từng chính sách đơn lẻ, mà ở cách tổ chức toàn bộ hệ thống khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi các chủ thể vận hành rời rạc, mỗi chính sách dù đúng cũng khó tạo hiệu quả cộng hưởng. Chỉ khi hệ thống được thiết kế nhất quán, tri thức mới có thể đi trọn vòng đời từ nghiên cứu đến ứng dụng.

Trong cấu trúc đó, đại học cần được định vị như một nút trung tâm, không chỉ sản xuất tri thức mà còn gắn chặt nghiên cứu với sở hữu trí tuệ, với nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp và với các mục tiêu chiến lược dài hạn của quốc gia. Vì vậy, đại học không chỉ là nơi đào tạo hay công bố học thuật, mà trở thành một chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình tích lũy và nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.

Trong hệ thống này, doanh nghiệp không còn chỉ là người tiếp nhận hay mua công nghệ, mà trở thành đối tác đồng hành ngay từ đầu, cùng đặt bài toán nghiên cứu, cùng thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa tri thức. Nhờ đó, khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường được rút ngắn, đồng thời rủi ro trong quá trình chuyển giao công nghệ cũng được giảm thiểu.

Nhà nước không cần can thiệp vi mô vào từng dự án, nhưng giữ vai trò then chốt trong việc kiến tạo thể chế: thiết kế cơ chế khuyến khích phù hợp, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, điều phối lợi ích giữa các chủ thể và duy trì kỷ luật phát triển dài hạn. Chính cách tổ chức hệ thống này quyết định một quốc gia có thể chuyển hóa tri thức thành sức mạnh phát triển hay không.

Đối với Việt Nam, thách thức cốt lõi không nằm ở việc thiếu đội ngũ nhà khoa học hay mức độ hội nhập quốc tế, mà ở chỗ năng lực chuyển hóa ở cấp quốc gia vẫn chưa được hình thành một cách đầy đủ và đồng bộ. Khi khoa học và công nghệ vẫn chủ yếu được đánh giá bằng chỉ số công bố, trong khi sở hữu trí tuệ, tích lũy công nghệ và học hỏi hệ thống chưa trở thành trọng tâm, thì tăng trưởng khó bền vững và khó tạo đột phá.

Vì vậy, yêu cầu cấp thiết không phải là chạy theo thêm chỉ tiêu, mà là tái thiết kế mối quan hệ giữa đại học - doanh nghiệp - Nhà nước, đặt trọng tâm vào việc biến tri thức thành năng lực quốc gia có thể tích lũy và truyền dẫn qua thời gian.

Kỳ tích phát triển sẽ không đến từ những bước nhảy ngắn hạn hay các giải pháp tình thế, mà từ một quá trình chuyển hóa khoa học và công nghệ được tổ chức bài bản, kiên định và có khả năng tích lũy lâu dài. Khi xây dựng được năng lực chuyển hóa quốc gia, Việt Nam không chỉ theo kịp thế giới, mà còn có khả năng định hình và dẫn dắt quỹ đạo phát triển của chính mình.

TS. Huỳnh Thanh Điền

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/neu-khong-the-chuyen-hoa-thanh-nang-luc-phat-trien-thi-co-tri-thuc-cung-khong-may-y-nghia/