Ngành chăn nuôi trước yêu cầu làm chủ công nghệ và phát triển bền vững

Chăn nuôi Việt Nam đang mở rộng quy mô, nâng cao năng suất và từng bước hội nhập sâu hơn với thị trường quốc tế. Tuy nhiên, ngành cũng đối mặt nhiều thách thức về dịch bệnh, môi trường, nguồn lực và sức cạnh tranh.

Giảm phát thải, làm chủ công nghệ và đảm bảo phúc lợi vật nuôi không còn là khẩu hiệu, mà đã trở thành 'vé thông hành' bắt buộc để ngành chăn nuôi Việt Nam tiến sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Để tìm lời giải cho các thách thức về môi trường và nâng cao sức cạnh tranh cho ngành chăn nuôi, Mekong ASEAN đã có cuộc trao đổi chuyên sâu cùng TS Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam.

Mekong ASEAN: Nhìn lại những bước phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam thời gian qua, ông đánh giá như thế nào về vị thế, quy mô sản xuất và khả năng hội nhập của ngành?

TS Nguyễn Xuân Dương: Chăn nuôi Việt Nam những năm qua đã có những bước tiến đáng kể, từng bước nâng cao năng lực sản xuất, năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu. Việt Nam hiện đứng thứ 5 thế giới về tổng đàn lợn, thứ 6 về sản lượng thịt lợn, thuộc nhóm các quốc gia có đàn gia cầm lớn nhất thế giới và đứng thứ 2 thế giới về đàn thủy cầm. Trong khu vực ASEAN, công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và chế biến sữa cũng thuộc nhóm dẫn đầu.

Những kết quả này được thể hiện rõ qua quy mô sản xuất. Năm 2026, tổng sản lượng thịt hơi các loại dự kiến đạt 9,08 triệu tấn, tăng 4,8% so với năm 2025; sản lượng trứng dự kiến đạt 22,49 tỷ quả và sản lượng sữa đạt 1,38 triệu tấn.

Mặc dù hiện vẫn là ngành nhập siêu, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đã có sự tăng trưởng tích cực. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 628 triệu USD; riêng 8 tháng đầu năm 2026 đạt 511,9 triệu USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước.

Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy dư địa để chăn nuôi Việt Nam nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và hội nhập sâu hơn với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nguồn số liệu: Hội Chăn nuôi Việt Nam, Cục Hải quan Việt Nam.

Mekong ASEAN: Theo ông, ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước những bất cập và thách thức nào?

TS Nguyễn Xuân Dương: Sau một thời gian dài phát triển nhanh, ngành chăn nuôi Việt Nam cũng đang bộc lộ những bất cập và điểm nghẽn ảnh hưởng đến tính bền vững. Không gian chăn nuôi ngày càng bị thu hẹp khi quỹ đất dành cho chăn nuôi tập trung và trồng cây thức ăn chăn nuôi chịu sức ép từ quá trình đô thị hóa và sự cạnh tranh của các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, ngành đang phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ dịch bệnh nguy hiểm, vấn đề môi trường và sự cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi nhập khẩu.

Một thách thức khác là sự cạnh tranh ngày càng rõ giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp lớn trong nước với doanh nghiệp nhỏ và khu vực chăn nuôi nông hộ. Trong khi chăn nuôi nông hộ vẫn là một đặc thù quan trọng của Việt Nam, việc tổ chức lại sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm sinh kế cho khu vực này đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết.

Không chỉ Việt Nam, ngành chăn nuôi toàn cầu cũng đang đứng trước những thách thức lớn. Biến đổi khí hậu, dịch bệnh mới nổi, yêu cầu giảm phát thải và bảo vệ môi trường, cạnh tranh thị trường, bảo đảm an ninh lương thực cùng những thay đổi nhanh chóng của kinh tế và thương mại quốc tế đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về năng suất, hiệu quả và khả năng thích ứng. Trong bối cảnh đó, phát triển bền vững không thể chỉ được nhìn dưới góc độ gia tăng sản lượng hay năng suất. Một mô hình chăn nuôi bền vững phải đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm tác động đến môi trường, duy trì sinh kế cho người sản xuất, bảo đảm an toàn thực phẩm và phúc lợi vật nuôi.

Chính trong bối cảnh đó, “Chăn nuôi bền vững” được lựa chọn làm chủ đề xuyên suốt của Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á - Australia lần thứ 21 (AAAP 2026), do Việt Nam đăng cai vào cuối tháng 10 tới đây.

Mekong ASEAN: Xin ông cho biết công nghệ chăn nuôi Việt Nam đang làm chủ đến đâu và đâu là điểm nghẽn cần tháo gỡ?

TS Nguyễn Xuân Dương: Cách đây khoảng 15 năm, trong chăn nuôi người ta chủ yếu nói đến khoa học kỹ thuật và chuyển giao kỹ thuật. Nhưng trong 15 năm gần đây, khoa học công nghệ ngày càng được nhấn mạnh. Công nghệ trở nên cần thiết khi số lượng người tham gia chăn nuôi, trồng trọt giảm, trong khi quy mô đàn vật nuôi vẫn phải tăng. Khi một người phải quản lý và sản xuất với quy mô lớn hơn, công nghệ là yếu tố không thể thiếu để nâng cao năng suất và hiệu quả.

Hiện nay, những công nghệ tiên tiến trên thế giới trong lĩnh vực chăn nuôi đều đã được đưa vào Việt Nam, từ công nghệ giống, thức ăn chăn nuôi, chuồng trại, thiết bị, xử lý môi trường đến phòng, chống dịch bệnh. Việt Nam đã từng bước tiếp cận, làm chủ và ứng dụng hiệu quả các công nghệ này vào sản xuất.

Tuy nhiên, điểm hạn chế là phần lớn công nghệ hiện nay vẫn được chuyển giao từ nước ngoài, trong khi số lượng công nghệ do Việt Nam tự nghiên cứu, phát minh và đưa vào sản xuất chưa nhiều. Chẳng hạn, Việt Nam đã nghiên cứu, sản xuất nhiều chế phẩm vi sinh dùng trong thức ăn chăn nuôi và xử lý môi trường, nhưng khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu, nhất là từ Trung Quốc, còn hạn chế.

Trong lĩnh vực giống, khoảng 10 năm qua, Việt Nam đã tiếp cận công nghệ chọn giống bằng hệ gen, một trong những công nghệ tiên tiến hiện nay. Nếu trước đây chọn giống chủ yếu dựa vào kiểu hình và phải mất khoảng 40 năm để tạo ra một giống mới, thì công nghệ hệ gen có thể rút ngắn thời gian này khoảng 10 - 15 năm.

Đối với thức ăn chăn nuôi, Việt Nam đang sở hữu nhiều nhà máy được đầu tư với công nghệ hiện đại, cùng hệ thống nghiên cứu và phát triển của các tập đoàn lớn.

Trong quản lý chăn nuôi, công nghệ số và tự động hóa cũng đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi, từ quản lý đàn vật nuôi bằng chip đến tự động hóa theo từng cá thể. Đây là quá trình tiếp nhận công nghệ tiên tiến của thế giới, đồng thời từng bước làm chủ và chuyển hóa thành công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.

Bên trong Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện đại của Công ty Japfa Comfeed Việt Nam tại xã Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Chu Chương/Mekong ASEAN.

Mekong ASEAN: Khoa học công nghệ sẽ giúp chăn nuôi giảm phát thải, bảo vệ môi trường và nâng cao phúc lợi động vật như thế nào, thưa ông?

TS Nguyễn Xuân Dương: Muốn nâng cao năng suất nhưng đồng thời giảm sử dụng tài nguyên và hạn chế tác động đến môi trường, chăn nuôi cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ từ giống, dinh dưỡng, chuồng trại đến quản trị thông minh và trí tuệ nhân tạo. Chẳng hạn, trong thức ăn có thể bổ sung men vi sinh, enzyme để giảm mùi và hạn chế tác động của chất thải; bên ngoài chuồng trại có thể sử dụng biogas, các chế phẩm xử lý mùi, đồng thời tái sử dụng chất thải làm phân bón.

Với các tập đoàn chăn nuôi quy mô lớn, lượng chất thải rất lớn nên yêu cầu xử lý cũng cao hơn. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư các công nghệ như màng lọc, hệ thống thu gom và xử lý khí thải, dù chi phí đầu tư và vận hành khá lớn.

Tuy nhiên, đối với chăn nuôi nông hộ, cần nhìn nhận đúng thực trạng, xây dựng tiêu chuẩn phù hợp và có lộ trình hỗ trợ người chăn nuôi. Chăn nuôi khó có thể hoàn toàn không có mùi, vấn đề là kiểm soát ở mức chấp nhận được, không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống.

Một yêu cầu khác của nền chăn nuôi hiện đại là phúc lợi động vật. Phúc lợi động vật không có nghĩa là không sử dụng động vật làm thực phẩm, mà tập trung vào việc bảo đảm điều kiện sống, chăm sóc, vận chuyển và giết mổ phù hợp, hạn chế tối đa đau đớn không cần thiết cho vật nuôi. Đây cũng là một nội dung của chăn nuôi văn minh, trong đó vật nuôi được tạo điều kiện phát triển phù hợp với tập tính tự nhiên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm.

Trong pháp luật Việt Nam, nội dung này từng được thể hiện dưới khái niệm “đối xử nhân đạo với vật nuôi”. Tuy nhiên, khái niệm “phúc lợi động vật” có nội hàm rộng hơn. Vì vậy, trong các tài liệu chuyên môn và chương trình AAAP, chúng tôi vẫn sử dụng khái niệm “animal welfare” - phúc lợi động vật. Đây cũng là nội dung cần tiếp tục được nghiên cứu, trao đổi khi các quy định pháp luật về chăn nuôi được sửa đổi trong thời gian tới.

Chiều 14/9/2026, Hội Chăn nuôi Việt Nam phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á - Úc lần thứ 21 (AAAP 2026). Ảnh: Chu Chương/Mekong ASEAN.

Mekong ASEAN: Xin ông cho biết, việc đăng cai AAAP 2026 có ý nghĩa như thế nào đối với hợp tác khoa học, công nghệ và phát triển ngành chăn nuôi của Việt Nam cũng như khu vực?

TS Nguyễn Xuân Dương: Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á - Australia (AAAP) được tổ chức hai năm một lần, luân phiên tại các quốc gia thành viên. Được thành lập năm 1980, sau hơn bốn thập kỷ, AAAP đã trở thành diễn đàn khoa học lớn của khu vực, quy tụ nhiều quốc gia có ngành chăn nuôi phát triển. AAAP 2026 dự kiến diễn ra từ ngày 28 - 31/10 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, trong đó các phiên khoa học chính được tổ chức từ ngày 28 - 30/10 và ngày 31/10 dành cho chương trình tham quan thực tế. Đây là lần thứ hai Việt Nam đăng cai, sau lần đầu vào năm 2008.

Trước đó, tại AAAP lần thứ 13 tổ chức năm 2008, Việt Nam đã đón hơn 1.270 đại biểu từ 32 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 16 phiên họp, 7 hội thảo, 193 báo cáo trực tiếp và 740 báo cáo poster. Sau 18 năm, AAAP trở lại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải ngày càng trở thành những yêu cầu quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi. Tại đây, Chương trình khoa học được xây dựng theo hướng liên ngành, với 14 nhóm chuyên đề, bao quát các lĩnh vực như di truyền, giống vật nuôi, dinh dưỡng, thức ăn chăn nuôi, sinh lý, sinh sản, sức khỏe vật nuôi và khoa học về các nhóm vật nuôi chủ lực.

Việc đăng cai AAAP lần thứ 21 không chỉ là sự ghi nhận đối với những bước phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam, mà còn mở rộng kết nối giữa các nhà khoa học, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và tổ chức quốc tế, qua đó nâng cao vai trò của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và phát triển chăn nuôi.

TS Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam phát biểu tại buổi gặp mặt báo chí thông tin về Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á - Úc lần thứ 21 (AAAP 2026). Ảnh: Chu Chương/Mekong ASEAN.

Mekong ASEAN: AAAP 2026 có những điểm nhấn gì về khoa học và ứng dụng thực tiễn, thưa ông?

TS Nguyễn Xuân Dương: Đến ngày 14/9, AAAP 2026 đã thu hút hơn 1.400 đại biểu đăng ký, vượt kế hoạch ban đầu 1.200 đại biểu, trong đó khoảng 650 đại biểu quốc tế đến từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ. Về nội dung khoa học, đến ngày 14/9, Ban Tổ chức tiếp nhận 994 báo cáo từ 35 quốc gia và vùng lãnh thổ, gồm 548 báo cáo có tác giả quốc tế và 446 báo cáo của Việt Nam. Trong đó, dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi có nhiều báo cáo nhất với 196 công trình, tiếp đến là di truyền - giống với 110 và khoa học gia cầm với 103 báo cáo.

Khoảng 970 báo cáo thuộc 14 nhóm chuyên đề đã được Hội đồng Khoa học xem xét, phê duyệt, trong đó có 364 báo cáo được lựa chọn trình bày trực tiếp, 630 báo cáo poster. Chương trình khoa học bao quát các lĩnh vực từ di truyền, giống vật nuôi, dinh dưỡng, thức ăn chăn nuôi, sinh lý, sinh sản, sức khỏe vật nuôi đến khoa học về lợn, gia cầm, gia súc nhai lại. Đồng thời, hội nghị dành không gian cho những vấn đề mới như môi trường chăn nuôi, quản trị số, chăn nuôi thông minh, chăn nuôi nông hộ và phúc lợi động vật.

AAAP 2026 hướng tới tăng cường liên kết giữa khoa học, công nghệ, chính sách, doanh nghiệp và người chăn nuôi, đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn nhằm nâng cao năng suất, kiểm soát dịch bệnh, tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động môi trường. Bên cạnh chương trình khoa học, hội nghị dự kiến có 50 - 70 gian hàng giới thiệu công nghệ, sản phẩm và dịch vụ.

Nội dung: Chu Chương, Thiết kế: Thu Thảo

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/nganh-chan-nuoi-truoc-yeu-cau-lam-chu-cong-nghe-va-phat-trien-ben-vung-59812.html