Ngập úng ở ĐBSCL và giải pháp thích ứng dài hạn
Ngay cả Hà Lan cũng đã chuyển từ tư duy 'đắp đê ngăn nước' sang chiến lược 'Room for the River' nhằm trả lại không gian cho con sông.

Nhà bè nổi - vừa ở vừa nuôi cá là kết quả của hàng trăm năm thích nghi thông minh với môi trường ngập nước ở ĐBSCL. Ảnh: N.K
Đã đến lúc những khu vực có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế chung phải nhận lấy trách nhiệm đóng góp đầu tư đúng mức để kiểm soát triệt để vấn đề ngập nước. Còn lại những khu vực mà sự đóng góp vào nền kinh tế chung không quá lớn, thì nên có lộ trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nhà ở, hệ thống giao thông... theo hướng giảm dần mật độ dân cư để tiến tới việc phục hồi lại những không gian trữ nước. Có thể gọi những nơi này là “Room for the Delta” - không gian cho đồng bằng.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là phần hạ lưu cuối cùng của hệ thống sông Mêkông - một trong những con sông lớn và phức tạp nhất thế giới, với chiều dài khoảng 4.800 ki lô mét, chảy qua sáu quốc gia gồm Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Với diện tích lưu vực sông lên đến khoảng 800.000 ki lô mét vuông, ĐBSCL không chỉ chịu tác động từ các hoạt động nội tại trong vùng, mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ toàn bộ các biến động diễn ra trên lưu vực sông Mêkông và các vùng biển lân cận (biển Đông và vịnh Thái Lan).
Xét về mặt thủy văn, ĐBSCL là khu vực giao thoa của nhiều nguồn nước. Trước hết là nước sông Mêkông, quyết định chế độ lũ hàng năm, lượng phù sa, chất dinh dưỡng và sinh kế truyền thống của hàng triệu người dân. Thứ hai là nước mưa, chi phối mạnh mẽ đến ngập úng cục bộ, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến mưa ngày càng cực đoan. Thứ ba là nước biển, thông qua thủy triều và xâm nhập mặn từ biển Đông và vịnh Thái Lan, tác động trực tiếp đến các tỉnh ven biển. Bên cạnh các yếu tố tự nhiên, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ngay trong ĐBSCL cũng góp phần làm thay đổi chế độ nước, từ hệ thống đê bao khép kín, cống đập ven biển, kênh mương nội đồng, đến các công trình giao thông, đô thị hóa và chuyển đổi sử dụng đất.
Ngập úng mỗi nơi mỗi khác
Ngập úng ở ĐBSCL không phải là một hiện tượng đồng nhất. Theo các ghi nhận thực tế, ngập có thể được phân tích qua ba thông số chính: diện tích ngập, độ sâu ngập và thời gian ngập. Chính sự khác biệt trong ba thông số này đã tạo nên những đặc trưng rất khác nhau giữa các tiểu vùng trong đồng bằng, đặc biệt là không thể phân chia theo địa giới hành chính.
Vì vậy, nói một cách tương đối là các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu thường chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều biển Đông - trong 24 giờ có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng (bán nhật triều) - dẫn đến hiện tượng ngập nhanh nhưng rút nhanh. Thêm vào đó nếu là mùa gió Đông - Bắc (gió chướng) hay Đông - Nam, thì sẽ ngập nhanh hơn, độ sâu ngập cao hơn, nước mặn xâm nhập vào đất liền sâu hơn và rút chậm hơn so với gió mùa hướng Tây - Nam.
Trong khi đó, Cà Mau và Kiên Giang có địa hình thấp, chịu ảnh hưởng chế độ nhật triều của vịnh Thái Lan - trong 24 giờ chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng - khiến nước ngập lên chậm, độ sâu ngập thấp, nhưng lại thường kéo dài hơn. Vùng đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang, ngập lũ mang tính mùa vụ rõ rệt, nước lên từ từ (mùa nước nổi) và rút chậm, kéo dài từ một đến hai tháng, gắn liền với chế độ lũ tự nhiên của sông Mêkông. Các nơi như thành phố Cần Thơ, Hậu Giang thì tùy vào mùa gió, mức độ giao thoa giữa thủy triều biển Đông, vịnh Thái Lan và sông Hậu mà có những vùng nước trên sông rạch rất ít di chuyển (vùng giáp nước) nên thời gian ngập thường kéo dài đến vài tuần lễ. Riêng tỉnh Vĩnh Long và Tiền Giang (cũ) thì chuyện ngập hoàn toàn bị ảnh hưởng do chế độ thủy văn của sông Hậu, sông Tiền và biển Đông.
Sự biến đổi của chế độ nước ở ĐBSCL hiện nay diễn ra đồng thời ở nhiều cấp độ. Ở cấp độ toàn cầu, biến đổi khí hậu làm mực nước biển dâng, gia tăng tần suất mưa lớn và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Ở cấp độ khu vực, hàng loạt công trình thủy điện, chuyển nước và khai thác tài nguyên ở thượng nguồn sông Mêkông đã làm thay đổi dòng chảy, giảm phù sa và điều chỉnh nhịp lũ tự nhiên. Ở cấp độ nội tại ĐBSCL, mô hình phát triển nông nghiệp thâm canh, đặc biệt là sản xuất lúa quy mô lớn, cùng với hệ thống đê bao khép kín và cống đập ngăn mặn đã làm xáo trộn quy luật thủy văn tự nhiên của hệ thống sông rạch ở đồng bằng. Hệ quả là người dân không thể dựa vào kinh nghiệm vốn có để có thể đoán biết lúc nào nước lên lúc nào nước xuống, năm nay nước ngập sớm hay trễ, nước ngập sẽ rút nhanh hay chậm. Việc xáo trộn quy luật tự nhiên dẫn đến nhiều nơi vừa thiếu nước ngọt vào mùa khô, vừa ngập úng nghiêm trọng vào mùa mưa, làm cho người dân luôn bị động trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất, mùa vụ canh tác và sắp xếp chuyện sinh kế hàng ngày.
Cần thay đổi cách tiếp cận và sử dụng nước hợp lý
Một trong những định hướng giải pháp quan trọng là thay đổi tư duy về nước. Người dân đến với ĐBSCL trong lịch sử vốn đã quen với cuộc sống gắn liền với nước. Vấn đề không phải là “chống ngập” bằng mọi giá, mà là hiểu nước, phân loại nước và sử dụng nước một cách thông minh. Theo cách tiếp cận này, nước ở ĐBSCL có thể được chia thành bốn nhóm chính.
Thứ nhất là nước ăn uống, chủ yếu từ nước mưa, cần được ưu tiên bảo vệ, trữ và sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày. Trong bối cảnh xâm nhập mặn gia tăng, việc thu trữ nước mưa quy mô hộ gia đình và cộng đồng trở nên đặc biệt quan trọng. Thứ hai là nước sinh hoạt, phục vụ tắm giặt, vệ sinh, có thể sử dụng nguồn nước mặt đã qua xử lý, tùy theo điều kiện từng địa phương. Thứ ba là nước sản xuất, cần được sử dụng linh hoạt theo mức độ mặn - ngọt. Ở vùng mặn cao, nước phù hợp cho làm muối; vùng mặn trung bình thích hợp nuôi tôm, cua; vùng lợ có thể phát triển mô hình lúa - tôm; vùng ngọt ổn định phù hợp với lúa, cây ăn trái và thủy sản nước ngọt. Thứ tư là nước sinh thái, đóng vai trò duy trì cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên, giao thông thủy, nguồn lợi thủy sản và bổ cập cho nước ngầm. Đây là loại nước thường bị xem nhẹ nhất, nhưng lại có ý nghĩa lâu dài đối với sự bền vững của vùng châu thổ.
Song song với giải pháp kỹ thuật, chuyển đổi hệ thống canh tác thì cũng cần phục hồi và phát huy văn hóa nước - một giá trị cốt lõi của ĐBSCL. Những tập quán như cất nhà sàn, nhà bè nổi - vừa ở vừa nuôi cá, phát triển giao thông thủy, giao thương kinh tế qua các chợ nổi, lễ hội đua ghe ngo… không chỉ là di sản văn hóa, mà còn là kết quả của hàng trăm năm thích nghi thông minh với môi trường ngập nước.
Từ “Room for the River” đến “Room for the Delta”: hướng đến giải pháp thích ứng dài hạn
Trong quá trình phát triển hiện đại, nhiều công trình đã được xây dựng theo xu hướng “ngăn nước”, vô tình làm mất không gian trữ nước tự nhiên của đồng bằng. Thực tế cho thấy, các công trình này chỉ phát huy hiệu quả trong giai đoạn ngắn, ngay cả các quốc gia có trình độ khoa học - kỹ thuật tiên tiến như Hà Lan cũng đã chuyển từ tư duy “đắp đê ngăn nước” sang chiến lược “Room for the River” - trả lại không gian cho con sông.
Từ thực tiễn đó, giải pháp cho vấn đề ngập úng ở ĐBSCL không thể chỉ dừng lại ở việc xây thêm đê bao hay cống đập. Cần một cách tiếp cận tổng hợp, bao gồm: quy hoạch không gian theo chế độ nước; chuyển đổi mô hình sinh kế phù hợp; đầu tư hạ tầng mềm kết hợp hạ tầng xanh; và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của nước. Quan trọng hơn cả là chấp nhận sự khác biệt giữa các tiểu vùng, không áp dụng một mô hình chung cho toàn bộ đồng bằng. Mỗi tỉnh, mỗi vùng cần có giải pháp riêng, dựa trên đặc điểm ngập cụ thể của mình.
Giải pháp cho vấn đề ngập úng ở ĐBSCL không thể chỉ dừng lại ở việc xây thêm đê bao hay cống đập. Cần một cách tiếp cận tổng hợp, bao gồm: quy hoạch không gian theo chế độ nước; chuyển đổi mô hình sinh kế phù hợp; đầu tư hạ tầng mềm kết hợp hạ tầng xanh; và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của nước. Quan trọng hơn cả là chấp nhận sự khác biệt giữa các tiểu vùng, không áp dụng một mô hình chung cho toàn bộ đồng bằng. Mỗi tỉnh, mỗi vùng cần có giải pháp riêng, dựa trên đặc điểm ngập cụ thể của mình.
Ví như những trung tâm tài chính, khu công nghệ cao, khu tập trung sản xuất hay chế biến hàng hóa cao cấp... có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế; hay những khu vực phục vụ cho lợi ích cộng đồng lâu dài như trường học, bệnh viện... thì phải đầu tư đúng mức để kiểm soát triệt để vấn đề ngập nước. Còn lại những khu vực mà sự đóng góp vào nền kinh tế chung không quá lớn, thì nên có lộ trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nhà ở, hệ thống giao thông... theo hướng giảm dần mật độ dân cư để tiến tới việc phục hồi lại những không gian trữ nước như của Hà Lan, có thể gọi những nơi này là “Room for the Delta” - không gian cho đồng bằng.
Ngập úng ở ĐBSCL không chỉ là thách thức hiện tại, mà nó đòi hỏi chúng ta phải có một tầm nhìn lâu dài và một chiến lược xuyên suốt trong nhiều thập niên, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà là cho nhiều thế hệ sau này.
Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/ngap-ung-o-dbscl-va-giai-phap-thich-ung-dai-han/












