Nghị quyết 23: Đổi mới tư duy kết nối nguồn lực kiều bào

Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển quan trọng trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài, từ vận động, tập hợp sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và huy động nguồn lực.

MỘT CỘI NGUỒN MUÔN NHỊP KẾT NỐI

Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước. Trao đổi với Doanh nhân & Công lý, ông Nguyễn Trung Kiên nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ vận động đơn lẻ sang kết nối có hệ thống, đổi mới đồng bộ từ tư duy, thể chế đến phương thức tổ chức thực hiện, để kiều bào không chỉ là đối tượng của chính sách mà trực tiếp tham gia, đóng góp vào sự phát triển đất nước.

01 Tư duy phát triển mới 02 Nguồn lực phát triển 03 Hành lang pháp lý 04 Báo chí và kết nối

Chọn nội dung bạn quan tâm để chuyển đến phần tương ứng của bài viết.

6,5 triệu+ Người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài

130+ Quốc gia và vùng lãnh thổ có cộng đồng người Việt

3 hướng Thể chế, kênh tham gia trực tiếp và kết nối cung - cầu

24/7 Định hướng hỗ trợ pháp luật số, dễ tiếp cận từ mọi nơi

MỘT CỘI NGUỒN - NHIỀU CƠ HỘI HỢP TÁC

Khi nguồn lực gặp đúng nhu cầu

Cộng đồng người Việt toàn cầu

Tri thức · Vốn · Kinh nghiệm quản trị · Mạng lưới đối tác

Kết nối
hai chiều

Nhu cầu phát triển trong nước

Doanh nghiệp · Địa phương · Viện nghiên cứu · Trường đại học

Cơ chế, dữ liệu và đối thoại là những điều kiện để hai phía tìm được tiếng nói chung.

Chuyển từ phương châm “thu hút về nước” sang “huy động đóng góp toàn cầu”.

Ông Nguyễn Trung Kiên phát biểu tại buổi gặp gỡ đoàn Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Nhật Bản, thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, thị trường và hợp tác đầu tư giữa hai nước. Ảnh: Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài

Ông Nguyễn Trung Kiên phát biểu tại buổi gặp gỡ đoàn Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Nhật Bản, thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, thị trường và hợp tác đầu tư giữa hai nước. Ảnh: Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài

01 TƯ DUY PHÁT TRIỂN MỚI

Để nguồn lực kiều bào trở thành một phần hữu cơ của sức mạnh phát triển

Thưa ông, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài: Từ vận động, tập hợp, chăm lo sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và huy động nguồn lực. Theo ông, đâu là khâu đột phá cần ưu tiên để tinh thần mới này thực sự đi vào cuộc sống?

Ông Nguyễn Trung Kiên: Đại hội Đảng XIV xác lập tư duy phát triển mới, khơi thông các động lực tăng trưởng chiến lược, đặc biệt là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế tư nhân, nguồn nhân lực chất lượng cao và sức mạnh văn hóa - con người Việt Nam; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát huy tối đa sức mạnh toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Như vậy, cần gắn việc phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài với các động lực phát triển chiến lược của đất nước, xây dựng cơ chế để kiều bào tham gia thực chất, lâu dài, đặc biệt trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng mới, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Nghị quyết số 23-NQ/TW xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài “là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia”, trên cơ sở đó đánh dấu bước chuyển quan trọng trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài: Từ “vận động, tập hợp, chăm lo” thành “đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực”. Như vậy, khâu đột phá không nằm ở một chính sách hay một hoạt động riêng lẻ, mà là tạo được sự chuyển biến đồng bộ từ tư duy, thể chế đến phương thức kết nối và tổ chức thực hiện, để nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài được kết nối với đúng nhu cầu phát triển của đất nước và trở thành một bộ phận hữu cơ của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về tư duy, nhận thức mới: Chúng ta cần coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng của chính sách mà là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển đất nước. Từ đó, xây dựng cơ chế kết nối hiệu quả để phát huy nguồn lực tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, tài chính, mạng lưới quan hệ và sức mạnh mềm của cộng đồng, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững, góp phần nâng cao vị thế quốc gia và bảo vệ Tổ quốc.

Về biện pháp, phương thức triển khai mới: Cần chuyển từ cách tiếp cận vận động đơn lẻ sang kết nối và phát huy nguồn lực một cách hệ thống, xây dựng hệ sinh thái kết nối người Việt Nam toàn cầu và kết nối kiều bào với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, đại học, viện nghiên cứu trong nước dựa trên nền tảng số, trong đó hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, phát huy sức mạnh mềm, xây dựng “không gian Việt Nam toàn cầu”, lan tỏa tiếng Việt, văn hóa và giá trị Việt Nam; tăng cường chính sách đối với thế hệ trẻ kiều bào nhằm củng cố gắn kết với quê hương, gìn giữ bản sắc dân tộc và hình thành nguồn lực kế cận lâu dài cho đất nước.

Ông Nguyễn Trung Kiên - Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài - cùng đoàn kiều bào dâng hương tưởng nhớ các Vua Hùng tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ, ngày 25/4/2026. Ảnh: Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài

Ông Nguyễn Trung Kiên - Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài - cùng đoàn kiều bào dâng hương tưởng nhớ các Vua Hùng tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ, ngày 25/4/2026. Ảnh: Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài

02 NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Từ kiều hối đến tri thức, công nghệ và mạng lưới toàn cầu

Kiều hối nhiều năm qua là một nguồn lực tài chính lớn đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, nguồn lực của hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài còn rộng hơn nhiều. Theo ông, Việt Nam cần những cơ chế, chính sách và công cụ gì để mở thêm các kênh đưa nguồn lực kiều bào vào phát triển dài hạn?

Ông Nguyễn Trung Kiên: Kiều hối và vốn đầu tư của kiều bào trong nhiều năm qua là những nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng được nhìn nhận rộng hơn, không chỉ ở vốn mà còn ở tri thức, khoa học - công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới doanh nghiệp và quan hệ quốc tế. Đây là những nguồn lực có giá trị gia tăng cao và tiềm năng tạo tác động lâu dài đối với quá trình phát triển đất nước.

1 Thể chế và môi trường đầu tư

Đồng bộ, minh bạch, ổn định; cắt giảm thủ tục; đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

2 Mở kênh tham gia trực tiếp

Tạo điều kiện để doanh nhân, chuyên gia, nhà khoa học kiều bào tham gia chương trình, dự án phát triển và đổi mới sáng tạo.

3 Kết nối cung - cầu

Xác định rõ nhu cầu trong nước và đúng nguồn lực kiều bào để kết nối vào những chương trình, dự án, lĩnh vực cụ thể.

Thứ nhất, về thể chế và cải thiện môi trường đầu tư: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định; cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Thời gian qua, một số chính sách trong các lĩnh vực quốc tịch, nhà ở, đất đai đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến quyền và lợi ích thiết thân của kiều bào, tạo nền tảng để kiều bào yên tâm gắn bó và đầu tư lâu dài tại Việt Nam.

Thứ hai, mở các kênh cụ thể để nguồn lực kiều bào tham gia trực tiếp vào phát triển đất nước: Tạo điều kiện để doanh nhân, chuyên gia, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, kiều bào có thể tham gia giải quyết các bài toán trong 10 nhóm công nghệ chiến lược, danh mục nhóm công nghệ và sản phẩm chiến lược, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Thứ ba, đổi mới cách thức kết nối cung - cầu: Một yêu cầu quan trọng của Nghị quyết 23-NQ/TW là xây dựng, liên thông và vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời tăng cường các diễn đàn, cơ chế đối thoại để tiếp nhận, phản hồi và phát huy các sáng kiến, đề xuất của cộng đồng. Theo đó, việc huy động nguồn lực cần xác định rõ nhu cầu trong nước, xác định đúng nguồn lực của kiều bào để kết nối hướng vào những chương trình, dự án, lĩnh vực cụ thể.

03 HÀNH LANG PHÁP LÝ

Một nền tảng pháp luật số “dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ thực hiện”

Kiều bào đặc biệt quan tâm đến quốc tịch, đầu tư, kinh doanh, nhà ở, tài sản, thừa kế và thủ tục pháp lý khi trở về Việt Nam. Theo ông, đâu là những vướng mắc cần ưu tiên tháo gỡ; đồng thời, có cần xây dựng một hệ thống thông tin và tư vấn pháp luật số đủ tin cậy, thống nhất, dễ tiếp cận?

Ông Nguyễn Trung Kiên: Qua thực tiễn công tác và trực tiếp lắng nghe tâm tư của bà con, chúng tôi đánh giá cơ bản hành lang pháp lý hiện nay liên quan đến kiều bào đã minh bạch, đồng bộ và cởi mở hơn rất nhiều. Đặc biệt, với việc Quốc hội thông qua Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh Bất động sản thời gian qua, quyền lợi của kiều bào đã được mở rộng gần như tương đương với công dân trong nước. Đáng chú ý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam được thông qua vào tháng 6/2025 với nhiều điểm nới lỏng về chính sách trở lại quốc tịch, đơn giản hóa thủ tục bằng công nghệ số đã góp phần tháo gỡ những nút thắt về pháp lý.

Dẫu vậy, quá trình đưa luật vào cuộc sống không tránh khỏi những vướng mắc phát sinh. Một vấn đề bà con thường gặp là các thủ tục yêu cầu giấy tờ chứng minh nhân thân, đặc biệt đối với kiều bào lớn tuổi hoặc những người rời quê hương từ khi còn quá nhỏ, hồ sơ thất lạc nhiều. Bên cạnh đó, việc thực thi chính sách tại một số nơi chưa thực sự đồng đều, dẫn đến việc giải quyết một số nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của bà con còn chưa kịp thời.

Với đặc thù cộng đồng ta hiện có hơn 6,5 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, chịu sự cản trở về địa lý, múi giờ và sự khác biệt về hệ thống pháp luật sở tại, nếu vẫn cung cấp thông tin theo phương thức hành chính, phân tán truyền thống thì kiều bào sẽ rất e ngại và khó tiếp cận.

Do đó, chúng ta cần sớm xây dựng một nền tảng pháp luật số theo phương châm “dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ thực hiện”, các quy trình, thủ tục được số hóa trực quan; đồng thời ứng dụng công nghệ hiện đại để tư vấn, hỗ trợ 24/7. Có như vậy, bà con mới có thể tra cứu thông tin chính thống và thực hiện thủ tục nhanh chóng, chính xác từ bất kỳ đâu trên thế giới. Việc thiết lập môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi và một kênh hỗ trợ số hóa tin cậy là một yếu tố quan trọng góp phần củng cố niềm tin để kiều bào an tâm hướng về cội nguồn, đóng góp xây dựng quê hương.

04 BÁO CHÍ VÀ KẾT NỐI

Từ “thông tin cho kiều bào” đến một không gian thông tin hai chiều

Trong môi trường truyền thông xuyên biên giới và mạng xã hội hiện nay, báo chí cần đổi mới như thế nào để vừa đưa thông tin chính thống đến với kiều bào, vừa tạo một kênh hai chiều để lắng nghe, kết nối và lan tỏa thông tin chính xác về Việt Nam?

Ông Nguyễn Trung Kiên: Theo tôi, điều quan trọng nhất là báo chí cần chuyển từ tư duy “thông tin cho kiều bào” sang xây dựng một không gian thông tin có tính tương tác và kết nối, trong đó người Việt Nam ở nước ngoài vừa là đối tượng phục vụ, vừa là nguồn tin, người tham gia và chủ thể lan tỏa thông tin về đất nước.

Đổi mới cách xây dựng nội dung

Phản ánh tâm tư, nhu cầu, sáng kiến và đề xuất của kiều bào; tạo thêm các diễn đàn để cộng đồng trực tiếp lên tiếng và đối thoại.

Tăng vai trò kết nối

Qua tuyến bài, tọa đàm, diễn đàn, báo chí có thể góp phần “nối đúng người với đúng việc”.

Phát huy cộng đồng kiều bào

Cung cấp thông tin chính xác, đa ngôn ngữ, đa nền tảng để những cá nhân có uy tín cùng lan tỏa thông tin về Việt Nam.

Chủ động trước thông tin sai lệch

Phát hiện sớm vấn đề, kiểm chứng, cung cấp thông tin kịp thời và giải thích vấn đề phức tạp bằng ngôn ngữ dễ hiểu.

Thứ nhất, đổi mới về cách xây dựng nội dung: Báo chí không chỉ đưa thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với cộng đồng, mà cần chủ động xây dựng những tuyến nội dung phản ánh tâm tư, nhu cầu, sáng kiến và đề xuất của kiều bào; coi đây là nguồn thông tin quan trọng để các cơ quan trong nước nắm bắt thực tiễn và hoàn thiện chính sách.

Thứ hai, tăng cường vai trò kết nối của báo chí: Qua các tuyến bài, diễn đàn, tọa đàm và sản phẩm truyền thông chuyên sâu, báo chí có thể giới thiệu những chuyên gia, doanh nhân, tổ chức kiều bào có khả năng đóng góp với những lĩnh vực, chương trình đang có nhu cầu trong nước. Trên cơ sở đó, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài có thể phát huy vai trò đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để kết nối, hỗ trợ và đưa những đề xuất, sáng kiến phù hợp đi vào thực tiễn.

Thứ ba, phát huy chính cộng đồng kiều bào như những nguồn lan tỏa thông tin chính xác, tích cực về Việt Nam: Báo chí cần cung cấp thông tin chính xác, dễ tiếp cận, đa ngôn ngữ, đa nền tảng và có tính chia sẻ cao, tạo điều kiện để những cá nhân, tổ chức có uy tín, ảnh hưởng và hiểu biết sâu về Việt Nam trong cộng đồng cùng tham gia lan tỏa thông tin bằng tiếng nói và cách thức phù hợp với từng môi trường sở tại.

Cuối cùng, trước sự phát triển nhanh của mạng xã hội và thông tin xuyên biên giới, báo chí cần chuyển từ thế bị động xử lý thông tin sai lệch sang chủ động xây dựng nguồn thông tin đáng tin cậy, phát hiện sớm vấn đề cộng đồng quan tâm, kiểm chứng và cung cấp thông tin kịp thời, đồng thời giải thích những vấn đề phức tạp bằng ngôn ngữ dễ hiểu. Khi làm được như vậy, báo chí sẽ thực sự trở thành cầu nối hai chiều giữa đất nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Với thế mạnh thông tin về doanh nghiệp, doanh nhân, chính sách và pháp luật, theo ông, Doanh nhân & Công lý - chuyên trang của Báo điện tử Công lý cần làm gì để trở thành một kênh thông tin tin cậy đối với doanh nhân, nhà đầu tư và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài?

Ông Nguyễn Trung Kiên: Với thế mạnh thông tin về doanh nghiệp, doanh nhân, chính sách và pháp luật, Chuyên trang Doanh nhân & Công lý có thể quan tâm một số định hướng nội dung sau:

Thứ nhất, thông tin về các chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài: Làm rõ vị trí, vai trò của cộng đồng là bộ phận không tách rời của dân tộc, nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia và là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới. Qua đó, giúp bà con hiểu rõ hơn định hướng phát triển đất nước, nhận diện những lĩnh vực có thể tham gia, đóng góp phù hợp với thế mạnh và nguyện vọng của mình.

Thứ hai, thông tin về các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của kiều bào: Nhất là những vấn đề bà con quan tâm khi về nước sinh sống, làm việc, đầu tư, kinh doanh như quốc tịch, xuất nhập cảnh, cư trú, nhà ở, đất đai, thành lập doanh nghiệp và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư.

Thứ ba, thông tin về môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam: Những nhu cầu, lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư của địa phương và cơ hội hợp tác với doanh nghiệp trong nước. Trong đó, quan tâm các lĩnh vực kiều bào có thế mạnh như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; phát huy mạng lưới doanh nhân, hệ thống phân phối, logistics và thương mại điện tử của kiều bào để đưa hàng Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Thứ tư, giới thiệu vai trò, đóng góp và những mô hình hợp tác hiệu quả của doanh nhân, trí thức kiều bào: Nhất là trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và kết nối thị trường. Đồng thời, phản ánh khách quan tâm tư, nguyện vọng, khó khăn và kiến nghị chính đáng của bà con, góp phần cung cấp thông tin phục vụ quá trình hoàn thiện và thực thi chính sách.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nhật Minh (thực hiện)

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/nghi-quyet-23-doi-moi-tu-duy-ket-noi-nguon-luc-kieu-bao.html