NGHỊ QUYẾT 80-NQ/TW: CHÌA KHÓA GIẢI PHÓNG NGUỒN LỰC VĂN HÓA HUẾ - KỲ 4: Những 'hạt mầm' của hệ sinh thái
Giữa điểm nghẽn, Huế đã có những “hạt mầm” đầy sức sống như hoa giấy thủ công đi các châu lục, cỏ bàng thành sản phẩm thời trang tạo sinh kế, công nghệ đưa cung điện đã mất “trở lại” trước mắt du khách...


Lấy cảm hứng từ nghề hoa giấy Thanh Tiên, Maypaperflower giờ đây có mặt tại 4 châu lục và mới đây nhất là hợp tác mở kho hàng hoa giấy thủ công với đối tác Châu Âu tại Amsterdam (Hà Lan). Nhiều mẫu hoa mới được sáng tạo song vẫn giữ hệ màu ngũ sắc, lồng ghép các giá trị tâm linh, triết lý nhân sinh vốn có bấy lâu.
Sau thành công, Phan Ngọc Hiếu, nhà sáng lập Maypaperflower quay về truyền thông, hỗ trợ làng nghề và thiết kế bộ KIT hoa giấy Thanh Tiên thu nhỏ làm quà tặng du lịch. Làng Thanh Tiên giờ rộn ràng đón khách, nhận đơn hàng, người dân yên tâm gắn bó với sinh kế bao đời. Nghề truyền thống qua đó được gìn giữ, iếp thêm giá trị mới để bước vào đời sống hiện đại.
Từ mô hình thực tế, có thể thấy nhiều hướng đi đã gặp nhau theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra: xây dựng hệ sinh thái văn hóa, trong đó doanh nghiệp là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo; người dân vừa là chủ thể vừa là đối tượng thụ hưởng thành quả. Nghị quyết cũng yêu cầu gắn văn hóa với du lịch, thương mại và công nghệ để hình thành chuỗi giá trị trên cơ sở khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên, bảo tồn và phát huy di sản với sinh kế cộng đồng.
Ở hướng đi khác, công nghệ đưa một phần di sản đã biến mất “trở lại” một cách mới mẻ, sinh động. Đó là trải nghiệm thực tế ảo “Đi tìm Hoàng cung đã mất” do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế phối hợp Công ty IV COM (Hàn Quốc) triển khai, tái hiện không gian Hoàng cung Huế khoảng 200 năm trước.
Qua thiết bị trải nghiệm, du khách “nhìn thấy” những công trình đã mất hoặc không còn nguyên vẹn, đồng thời tiếp cận thông tin về kiến trúc, nghi lễ, đời sống cung đình. Công nghệ mở thêm một cánh cửa, giúp công chúng tiếp cận những lớp giá trị mà cách tham quan thông thường không thể tạo ra.

Từ mạch sáng tạo ấy, nón cỏ bàng của Marie's cũng tạo tiếng vang cho thị trường hàng thủ công. Sợi cỏ bàng dùng đan đệm, túi xách sau khi thiết kế trở thành mặt hàng thời trang xanh đẳng cấp được nhiều người nổi tiếng sử dụng. Bề mặt nón trang trí họa tiết văn hóa truyền thống như trống đồng, pháp lam hay hoa văn cung đình Triều Nguyễn... Nón cỏ bàng trở thành dòng sản phẩm chủ lực nuôi sống doanh nghiệp, chiếm 70% - 80% trong tổng số đơn hàng bán ra mỗi tháng.
Đáng chú ý, doanh nghiệp tổ chức lại quy trình, tiêu chuẩn, đào tạo cho người dân trong chuỗi sản xuất. Giờ đây, Marie’s tạo sinh kế bền vững ổn định cho khoảng 35 - 40 phụ nữ tại làng Phò Trạch và 3 làng nón truyền thống khác; vùng trồng nguyên liệu mở rộng nhiều lần so với trước; thu nhập người thợ nâng lên đáng kể.
“Tôi từng mong một triệu người đội nón Maries. Bây giờ, giấc mơ lớn hơn là để thế giới biết đến Việt Nam qua những giá trị văn hóa đặc sắc”, chị Hồ Thị Sương Lan, CEO của thương hiệu Maries chia sẻ.

Dẫn chứng trên cho thấy, trên nền “ADN di sản”, một nghề thủ công có thể được nâng cấp thành sản phẩm thời trang, hoa văn cổ trở thành chất liệu thiết kế, không gian di sản trở thành nơi trải nghiệm và sáng tạo.
Từ ba điểm sáng vừa nêu, có thể nhận ra một dòng chuyển hóa giá trị khá rõ: tài nguyên văn hóa qua sáng tạo qua thiết kế tạo thành sản phẩm; sản phẩm xây dựng thương hiệu, vào thị trường thành giá trị kinh tế, sau đó một phần giá trị này tạo sinh kế cho cộng đồng và bảo tồn di sản. Trong chuỗi đó, doanh nghiệp đóng vai trò như mắt xích chuyển hóa từ sáng tạo đến sản xuất, phân phối, mở rộng thị trường.
Đánh giá từ những mô hình, ông Cung Trọng Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Huế, Giám đốc Hue Innovation Hub nhận thấy Huế xuất hiện ngày càng rõ những “hạt nhân” của kinh tế văn hóa: từ số hóa di sản đã có sản phẩm thương mại, du lịch thông minh kết hợp dữ liệu với trải nghiệm, đến các start up, sản phẩm thủ công, thiết kế áo dài. Các chủ thể cũng bắt đầu tìm đến nhau.
Những tín hiệu ấy, theo ông Cường, cho thấy các “hạt nhân” của một hệ sinh thái đã bắt đầu xuất hiện, dù phần lớn vẫn là những điểm sáng riêng lẻ.

Các mô hình thành công đã khẳng định giá trị trên thị trường nhưng vì sao “nhiều cây tốt” chưa tạo thành một “khu rừng”? Những dữ liệu phục vụ xây dựng hồ sơ gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo UNESCO-UCCN cho thấy khoảng trống nằm ở chính khả năng kết nối các nguồn lực sáng tạo.
Theo thống kê, năm 2025, tám nhóm ngành văn hóa, sáng tạo cùng các lĩnh vực song hành có 289 doanh nghiệp (DN), cơ sở. Song, số DN ở tầng “lõi sáng tạo” gồm xuất bản; điện ảnh, truyền hình, âm nhạc; sáng tác, nghệ thuật, giải trí; thư viện, bảo tàng và hoạt động văn hóa khác chỉ có 32 đơn vị, chiếm khoảng 11%. Doanh thu của nhóm này đạt gần 236 tỷ đồng, tương đương khoảng 4% tổng doanh thu tám nhóm (gần 5.900 tỷ đồng).

Những con số đó chưa đại diện cho bức tranh công nghiệp văn hóa do chưa có một hệ thống thống kê riêng đầy đủ, quy mô. Tuy nhiên, lát cắt này cho thấy một khoảng cách đáng chú ý: “hạt giống” đã xuất hiện khá nhiều, nhưng lực lượng ở tầng lõi sáng tạo - nơi trực tiếp sản xuất nội dung và giá trị sáng tạo - vẫn còn khá mỏng. Bên cạnh đó, hạ tầng của hệ sinh thái sáng tạo cũng là vấn đề cần được xem xét.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Trần Hữu Thùy Giang nhìn nhận điểm yếu là nhiều sáng kiến phát triển tương đối độc lập, quy mô nhỏ, thiếu môi trường thử nghiệm, nguồn vốn, tư vấn thiết kế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, năng lực sản xuất và hệ thống phân phối. “Chúng ta còn thiếu một cơ chế liên kết và tổ chức thị trường đủ mạnh để kết nối các hạt nhân sáng tạo đang hình thành”, đồng chí Thùy Giang nói.

TS.KTS Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam (S- DCI) chỉ ra hệ sinh thái chỉ thực sự hình thành khi các chủ thể không chỉ gặp nhau, mà bắt đầu cần nhau để tạo ra một giá trị.
Muốn vậy, trước hết phải có những “thiết chế trung gian” đủ năng lực kết nối. Dữ liệu di sản sau số hóa cần được đưa vào vòng sáng tạo: di sản → dữ liệu → tri thức → sáng tạo → tài sản trí tuệ → sản phẩm → thị trường → dữ liệu công chúng → tiếp tục sáng tạo. Thị trường và công chúng cần tham gia ngay từ đầu, cùng với cơ chế chia sẻ lợi ích và khả năng đo lường kết quả.
Đây được xem là đáp án khá hoàn chỉnh cho câu hỏi “hệ sinh thái công nghiệp văn hóa vận hành như thế nào” ở Huế. Qua đó, có thể rút ra bài học từ mô hình có giá trị tham khảo.
Thay vì dàn trải, bà Hạnh gợi ý, Huế có thể lựa chọn một số chuỗi giá trị có lợi thế để xây dựng thành những “phòng thí nghiệm sống”: làm thật, đo thật, rút kinh nghiệm rồi nhân rộng.
Đồng chí Trần Hữu Thùy Giang cho rằng, một hệ sinh thái sáng tạo thực sự phải kết nối được năm thành tố: tài nguyên văn hóa; con người sáng tạo; khoa học và công nghệ; doanh nghiệp và nguồn vốn; thị trường. Trong đó, Nhà nước kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng nền tảng, đặt hàng; doanh nghiệp giữ vai trò tổ chức sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường; nghệ sĩ, nghệ nhân và cộng đồng là chủ thể sáng tạo, gìn giữ bản sắc.

Trong định hướng, Phó Chủ tịch Trần Hữu Thùy Giang cho biết, thành phố đang hoàn thiện Đề án phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, xác định phát triển sáu nhóm ngành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau gồm: du lịch văn hóa và kinh tế di sản; nghệ thuật biểu diễn; cụm thiết kế sáng tạo; sản phẩm công nghiệp văn hóa số; thủ công mỹ nghệ và làng nghề; truyền hình, phát thanh, xuất bản và quảng cáo.
Từ những “hạt mầm” mới, sáu nhóm ngành chủ lực được kỳ vọng sẽ tạo nên những tầng cây chính của “khu rừng” công nghiệp văn hóa Huế trong tương lai.

“Ươm”, “xây”, “nuôi” tạo nên sức sống bên trong của hệ sinh thái. Nhưng một hệ sinh thái trưởng thành còn cần khả năng đưa những giá trị đặc sắc ra bên ngoài, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và thu hút nguồn lực bồi đắp cho nơi đã sinh ra chúng. Định hướng này được Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra khi yêu cầu phát huy vai trò của văn hóa trong đối ngoại, đưa sản phẩm, dịch vụ ra quốc tế, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
Với Huế, hành trình ấy khởi động từ khá sớm. Cố đô tham gia vào vai trò ngoại giao đặc biệt khi đất nước còn trong vòng cấm vận, những giá trị nghệ thuật truyền thống của Huế theo hoạt động giao lưu văn hóa bước ra bên ngoài. Gần bốn thập niên sau, những “chuyến đi” tương tự góp phần thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ bảo tồn và phát triển.
Mấy mươi năm gắn bó với Nhã nhạc, NSƯT Hoàng Trọng Cương (Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật cung đình Huế, thuộc Trung tâm BTDT Cố đô Huế) đã đưa nghệ thuật cung đình Huế đi khắp châu Á, châu Âu, thậm chí biểu diễn tại Trụ sở UNESCO ở Paris. Theo ông Cương, qua những hoạt động như vậy, chúng ta không chỉ giới thiệu một chương trình nghệ thuật mà còn giới thiệu lịch sử và văn hóa Việt Nam đến cộng đồng quốc tế.

Nhìn vào giá trị kết nối, Chủ tịch UBND thành phố Lê Trí Thanh khẳng định: Thành phố xác định văn hóa là sức mạnh mềm; di sản là nguồn lực và lợi thế cạnh tranh khác biệt; đồng thời, đối ngoại nhân dân là cầu nối quan trọng để lan tỏa hình ảnh Huế và Việt Nam ra bên ngoài.
Từ cầu nối di sản, Huế mở rộng hợp tác quốc tế và nhận được sự hỗ trợ của hơn 10 chính phủ, khoảng 40 tổ chức quốc tế, huy động nguồn lực trị giá hàng chục triệu USD cho các chương trình bảo tồn di sản, nghiên cứu khoa học, nâng cao năng lực. Cố đô còn tham gia các mạng lưới quốc tế: Tổ chức các thành phố di sản thế giới (OWHC), Hiệp hội Quốc tế các thị trưởng nói tiếng Pháp (AIMF), mở rộng hợp tác với các địa phương giàu kinh nghiệm bảo tồn và phát triển đô thị di sản như Kyoto, Shizuoka, Nara, Gifu, (Nhật Bản) và Gyeongju (Hàn Quốc).
Lấy nội lực văn hóa để khơi thông ngoại lực, và dùng ngoại lực bồi đắp trở lại cho nội lực. Hợp tác với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) là câu chuyện minh chứng rõ nét cho dòng chảy hai chiều đầy ý nghĩa.
Giai đoạn 2015 - 2018, KOICA tài trợ không hoàn lại 6 triệu USD cho quy hoạch chi tiết hai bờ sông Hương, góp phần định hình không gian kiến trúc, cảnh quan gắn với trục di sản. Tiếp đó, dự án “Xây dựng thành phố Huế văn hóa và du lịch thông minh” (2021 - 2025) đưa nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển du lịch văn hóa bền vững, không gian công cộng ven sông Hương, nâng cao năng lực quản lý đô thị…

Có nguồn lực, có cách làm chuyển hóa văn hóa thành giá trị phát triển. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để chuyển sáng kiến của từng chủ thể đơn lẻ sang năng lực điều hành phát triển của cả thành phố. Muốn vậy, cần một cách tổ chức đủ sức kết nối, vận hành và đo được kết quả. Đó cũng là cách Huế thể hiện vai trò trong hai chữ “đi đầu”.
Hoa giấy Thanh Tiên thu nhỏ theo chân du khách. Clip: Liên Minh - Phước Hạnh

