Nghị quyết 80-NQ/TW: Tạo xung lực phát triển mới cho văn hóa Việt Nam
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành tháng 1 năm 2026 như là một sự tạo đà cho phát triển trong giai đoạn mới. Đây là những chỉ đạo mang tính định hướng ở một lĩnh vực nhưng có thể tạo ra những xung lực mang tính đột phá cho sự phát triển của đất nước.

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính và Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Văn Phong cùng các nghệ sĩ tham dự lễ khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ nhất, năm 2025. Ảnh: HL
Tư tưởng khai phóng và tính chất cách mạng về văn hóa
Nhìn lại lịch sử, có thể thấy khá rõ dấu ấn của từng thời kỳ được in đậm trong các chỉ đạo về văn hóa của Đảng. Những chỉ đạo này luôn gắn với các tình huống và nhiệm vụ cụ thể, vì vậy, dù được diễn đạt dưới hình thức nào thì tính chất chức năng, phục vụ trực tiếp cho những yêu cầu trước mắt vẫn bộc lộ rõ nét. “Đề cương Văn hóa Việt Nam” năm 1943 nằm trong mạch tư tưởng “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” nhưng gắn với những nhiệm vụ cụ thể của một phong trào cách mạng xã hội mà nhiệm vụ cứu quốc được đặt lên hàng đầu. Chức năng của nó thể hiện ngay ở những tên gọi. Sau “văn hóa cứu quốc” là “văn hóa kháng chiến kiến quốc, văn hóa xây dựng đời sống mới, văn hóa xây dựng cuộc sống mới, con người mới”. Chỉ vài thập niên gần đây nó mới dần thoát ra những nhiệm vụ cụ thể, mang ý nghĩa khái quát hơn: Văn hóa là nguồn lực tinh thần, là sức mạnh nội sinh của sự phát triển. Những tên gọi ấy, dù có mang ý nghĩa cụ thể hay biểu tượng thì suy cho cùng cũng gắn với những nhiệm vụ cụ thể, trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển và vẫn mang đặc tính chung: Là một lĩnh vực tinh thần, phản ánh nền tảng tinh thần của xã hội, là định hướng tư tưởng, đạo đức xã hội, là phụ trợ chứ chưa phải là lực lượng chiến lược toàn diện của sự phát triển.
Nói Nghị quyết 80 là bước tạo đà, là cơ sở để tạo ra những xung lực đột phá trong phát triển văn hóa - xã hội vì tinh thần khai phóng của nó ở những quan điểm rất mới sau.
Thứ nhất, văn hóa được coi như nguồn lực chiến lược cho sự phát triển của giai đoạn mới. Nói tới nguồn lực chiến lược là nói đến yếu tố quan trọng bậc nhất, ổn định, lâu dài, quyết định xu hướng và chất lượng phát triển. Chưa bao giờ văn hóa được nhìn nhận như vậy.
Thứ hai, từ những Nghị quyết trước đó về văn hóa, vấn đề con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của văn hóa đã được đặt ra nhưng chỉ trong Nghị quyết 80 vấn đề xây dựng nhân cách văn hóa con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại mới được đặt ra cụ thể, thiết thực, khả thi gần với bản thể văn hóa nhất.
Về môi trường văn hóa là xây dựng hệ giá trị văn hóa (dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học), hệ giá trị quốc gia (hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc), hệ giá trị gia đình (ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh), chuẩn mực con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo). Rõ ràng ở từng tầng bậc của hệ tiêu chí, các nội dung được xác định cụ thể, rõ ràng, tạo tiền đề cho con người phát triển toàn diện.
Một điểm mới nữa, Nghị quyết 80 còn tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn trong thể chế, cơ chế tạo sự đồng bộ giữa pháp luật chung với các luật chuyên ngành, với các cơ chế liên quan, giữa Nhà nước và tư nhân, giữa tổ chức và cá nhân để mở đường cho văn hóa phát triển.
Thứ ba, Nghị quyết nhấn mạnh sự cân bằng giữa truyền thống với hiện đại và hội nhập. Việc đảm bảo sự hài hòa giữa bản sắc dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, truyền thống và hiện đại là quy luật tất yếu, là thử thách đối với mỗi dân tộc vì chỉ làm tốt điều này mới không bị bỏ lại phía sau, mới có thể chủ động nhập cuộc trong thời đại mới. Sự giao thoa, tiếp biến, cộng sinh văn hóa trong thời đại công nghệ số đòi hỏi một nhãn quan mới, tâm thế mới và năng lực thích ứng mới.
Thứ tư, đây là một nhận thức rất mới trong đánh giá về văn hóa, đó là văn hóa được coi là hệ điều tiết xã hội, có thể tạo ra những đột phá cho phát triển nhưng cũng giúp tạo ra sự cân bằng xã hội khi có nguy cơ “lệch” khỏi quỹ đạo phát triển bền vững.
Thứ năm, lần đầu tiên Nghị quyết của Đảng mở rộng sự tham gia của các lực lượng xã hội, đặc biệt là vai trò của tư nhân và các doanh nghiệp văn hóa. Sự đổi mới trong chính sách (tư nhân là động lực quan trọng của phát triển, trong đó có văn hóa) sẽ mở ra một chân trời mới cho đầu tư, cạnh tranh sản phẩm, cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Và lợi ích dễ thấy nhất là xã hội sẽ được quyền lựa chọn những sản phẩm tốt nhất.
Điều cuối cùng là sự nhấn mạnh đặc biệt đến vai trò của môi trường trong không gian mới (không gian số, truyền thông mới...) sẽ tạo những tiền đề mới cho phát triển. Điều dễ thấy nhất là Nghị quyết lần đầu tiên đã chuyển văn hóa từ một lĩnh vực phụ trợ sang lực lượng chiến lược của phát triển, đã đặt con người làm trung tâm của quá trình ấy và mở rộng không gian sáng tạo, cạnh tranh, gắn sản phẩm văn hóa với thị trường mới giàu tính cạnh tranh, đòi hỏi phải có những đột phá để hội nhập. Thách thức lớn nhưng cơ hội là vô tận, nhất là kích thích và tạo những xung lực sáng tạo mới.
Cú hích chiến lược cho công nghiệp văn hóa
Như đã nói ở trên, Nghị quyết 80 đã thay đổi góc nhìn về văn hóa mang tính cách mạng và khai phóng ở chỗ chuyển văn hóa từ lĩnh vực phụ trợ sang một lực lượng chủ đạo mang tính chiến lược toàn diện của phát triển. Ở đây, vấn đề công nghiệp văn hóa không còn được đặt ra như một định hướng cho tương lai, mà đã trở thành yêu cầu giải quyết những bài toán cụ thể của phát triển, coi công nghiệp văn hóa như một trong những trụ cột quan trọng.
Nghị quyết 80 xác định công nghiệp văn hóa phải trở thành lực lượng tham gia phát triển kinh tế quốc gia, góp phần tăng GDP và tạo ra các sản phẩm có giá trị thương mại. Sản phẩm văn hóa hiện hình cụ thể bằng giá trị xác định: Đến năm 2030, công nghiệp văn hóa dự kiến đóng góp khoảng 7% GDP, xây dựng được từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia như điện ảnh, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, âm nhạc và nghệ thuật trình diễn. Đến năm 2045 tăng mức đóng góp lên 9% GDP trở lên, trở thành một nền kinh tế sáng tạo trụ cột trong mô hình phát triển kinh tế quốc gia, nâng hạng và nâng tầm ảnh hưởng của văn hóa Việt ra khu vực và quốc tế.
Nhà nước giữ vai trò “bà đỡ” từ chính sách, tạo cơ chế; nhà nước và các nhà đầu tư, doanh nghiệp văn hóa cùng chung tay tạo dựng một nền kinh tế mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của giai đoạn mới. Đó là cú hích, là xung lực cho công nghiệp văn hóa phát triển. Chưa bao giờ vấn đề xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia mang tính cạnh tranh cao (phim ảnh, lễ hội, nội dung số, sản phẩm sáng tạo...) lại đặt ra cấp thiết như lúc này. Nghị quyết 80 đã mở đường cho phát triển lĩnh vực này, tạo cơ chế cho việc đầu tư và đổi mới thể chế. Sự thay đổi từ góc nhìn quản lý hành chính sang quản lý bằng luật pháp, thay đổi góc nhìn từ lĩnh vực phụ trợ sang động lực chiến lược, những hoạt động của các doanh nghiệp truyền thông, nội dung số, giải trí trực tuyến, game, sáng tạo kỹ thuật số... sẽ mở ra cho những tư tưởng khởi nghiệp của các doanh nghiệp tư nhân, tăng cường hợp tác công tư, phát triển nhân lực và môi trường sáng tạo. Đó là những cú hích lớn mang tính tổng thể, là cánh cửa mở sẵn chờ đón những ý tưởng mới, sáng tạo mới. Nhu cầu xã hội đang kích thích sự phát triển. Cơ chế mới chắp cánh cho cách làm ăn mới. Những người đi sau có cái bất lợi của kẻ đi sau nhưng lại tích lũy được những kinh nghiệm quý của người đi trước nên thách thức có thể chuyển hóa thành cơ hội nếu chủ động và lựa chọn cách đi đúng. Sự nhanh nhạy của người Việt sẽ là tiền đề quan trọng kích thích sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Vấn đề đầu tư giờ đây không còn là trở ngại không thể vượt qua. Kỹ năng và năng lực sáng tạo của người Việt chắc chắn sẽ là những căn cứ quan trọng cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa.












