Ngoại giao Nghị viện và tầm nhìn kết nối chiến lược Việt Nam - Trung Quốc

Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn mở ra dịp quan trọng để nhìn nhận vai trò của ngoại giao nghị viện trong việc bồi đắp tin cậy chính trị, thúc đẩy kết nối phát triển và đưa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đi vào chiều sâu, thực chất.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường. (Nguồn: TTXVN)

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường. (Nguồn: TTXVN)

Chuyến thăm trong một thời điểm chiến lược

Trong quan hệ quốc tế, có những chuyến thăm cấp cao mang ý nghĩa vượt ra ngoài lịch trình ngoại giao thường niên. Đó là khi một sự kiện diễn ra đúng vào thời điểm các quốc gia đang xác lập những ưu tiên phát triển mới và môi trường khu vực, thế giới đặt ra những yêu cầu thích ứng sâu sắc. Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn từ ngày 11 đến 15/10, theo lời mời của Ủy viên trưởng Nhân đại toàn quốc Trung Quốc Triệu Lạc Tế là một sự kiện như vậy.

Chuyến thăm diễn ra khi Việt Nam triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Quốc hội khóa XVI bắt đầu nhiệm kỳ mới; Trung Quốc bước vào năm đầu thực hiện Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 15. Trong khi đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển dịch chuỗi cung ứng, chuyển đổi công nghệ và những bất định của kinh tế toàn cầu đang đặt các quốc gia trước yêu cầu vừa duy trì ổn định, vừa tìm kiếm những động lực tăng trưởng có chất lượng hơn.

Đối với Việt Nam, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa tiếp tục là nguyên tắc nhất quán. Trong tổng thể ấy, phát triển quan hệ ổn định, lâu dài với Trung Quốc là lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu, phù hợp với lợi ích căn bản và lâu dài của hai nước. Điều quan trọng là đặt mối quan hệ láng giềng trong một tư duy rộng hơn: duy trì môi trường hòa bình để phát triển, đồng thời chủ động tạo dựng những điều kiện mới cho phát triển.

Chuyến thăm tiếp nối chuỗi tiếp xúc cấp cao, đặc biệt sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình tháng 4/2025 và chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tháng 4/2026. Tính liên tục của đối thoại cấp cao cho thấy tin cậy chính trị cần được nuôi dưỡng thường xuyên, nhưng cũng cần được cụ thể hóa bằng những cơ chế và kết quả có thể nhận thấy trong đời sống kinh tế - xã hội.

Ở đây có thể nhận ra một chuyển động đáng chú ý của tư duy ngoại giao: từ củng cố quan hệ sang đồng thời kiến tạo không gian phát triển; từ duy trì môi trường thuận lợi sang chủ động tranh thủ nguồn lực, cơ hội và tri thức quốc tế. Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt ra yêu cầu hội nhập chủ động, tích cực, sâu rộng, toàn diện và hiệu quả hơn. Trong tinh thần ấy, ngoại giao không chỉ là cầu nối giữa các quốc gia, mà còn là một phương thức huy động sức mạnh tổng hợp phục vụ phát triển đất nước. Quan hệ chiến lược còn được đánh giá qua năng lực mở rộng hợp tác và góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định khu vực.

Toàn cảnh cuộc hội kiến. (Nguồn: TTXVN)

Toàn cảnh cuộc hội kiến. (Nguồn: TTXVN)

Ngoại giao nghị viện: Từ nhận thức chung đến năng lực thực thi

Điểm nhấn đặc biệt của chuyến thăm lần này là việc Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đồng chủ trì Phiên họp lần thứ hai Ủy ban hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc. Sau phiên họp đầu tiên tại Hà Nội ngày 31/8/2025, cơ chế này đang từng bước hình thành nhịp hợp tác thường xuyên giữa hai cơ quan lập pháp. Đây không đơn thuần là sự mở rộng một kênh tiếp xúc, mà là bước phát triển trong phương thức tổ chức thực hiện những định hướng quan hệ song phương.

Trong cấu trúc đối ngoại toàn diện của Việt Nam, đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và ngoại giao nghị viện có những thế mạnh riêng, bổ sung cho nhau. Nếu tiếp xúc cấp cao xác lập tầm nhìn và những nhận thức chung, thì hợp tác nghị viện góp phần tạo nền tảng pháp lý, thúc đẩy trao đổi kinh nghiệm quản trị, tăng cường giám sát thực hiện và kết nối với các nhu cầu cụ thể của người dân, doanh nghiệp.

Ngoại giao nghị viện càng có ý nghĩa khi các lĩnh vực hợp tác mới liên quan trực tiếp tới luật pháp và thể chế: Kết nối đường sắt xuyên biên giới, logistics, cửa khẩu thông minh, tiêu chuẩn công nghệ, thương mại điện tử, kinh tế số, chuyển đổi xanh hay đào tạo nguồn nhân lực. Một dự án có thể nhận được sự đồng thuận chính trị rất cao, nhưng nếu quy định, quy trình và cơ chế phối hợp chưa tương thích, việc triển khai vẫn có thể chậm trễ. Đây chính là khoảng không gian để các cơ quan lập pháp phát huy đóng góp riêng của mình.

Điều cần kỳ vọng ở cơ chế Ủy ban hợp tác không phải là thêm một diễn đàn trao đổi mang tính nghi thức, mà là khả năng nhận diện những vướng mắc cụ thể, lựa chọn vấn đề ưu tiên, theo dõi tiến độ và góp phần tạo chuyển biến về chất trong hợp tác. Đối thoại nghị viện cũng là cơ hội để hai bên chia sẻ kinh nghiệm xây dựng pháp luật, giám sát chính sách, chuyển đổi số trong hoạt động nghị trường và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt về thể chế, điều kiện phát triển và lợi ích của mỗi nước.

Trong tám tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc đạt khoảng 216,1 tỷ USD, tăng 35,2% so với cùng kỳ, theo số liệu được Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình công bố. Quy mô đó cho thấy mức độ gắn kết kinh tế sâu sắc, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng hợp tác. Mục tiêu không chỉ là lưu chuyển nhiều hàng hóa hơn, mà còn là nâng năng lực công nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gia tăng hàm lượng công nghệ và bảo đảm sự phát triển cân bằng, bền vững.

Từ góc độ ấy, một thông điệp đáng chú ý là: tin cậy chính trị tạo điều kiện cho hợp tác, nhưng thể chế tốt và năng lực thực thi mới giúp chuyển hóa tiềm năng thành kết quả. Thành công của ngoại giao nghị viện cần được nhìn thấy ở những điểm nghẽn được tháo gỡ, những dự án được triển khai hiệu quả và những cơ hội phát triển đến được với người dân.

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn. (Nguồn: Quốc hội)

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn. (Nguồn: Quốc hội)

Kết nối phát triển trên nền tảng lòng tin và lợi ích lâu dài

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện đang đứng trước cơ hội mở rộng từ các lĩnh vực hợp tác truyền thống sang những động lực phát triển tương lai. Kết nối giao thông, hạ tầng cửa khẩu và chuỗi cung ứng vẫn rất quan trọng; nhưng kết nối về khoa học - công nghệ, kinh tế số, năng lượng sạch, giáo dục và nguồn nhân lực sẽ ngày càng quyết định chất lượng hợp tác trong thập niên tới.

Đối với Việt Nam, tiếp nhận nguồn lực quốc tế cần đi đôi với phát triển nội lực. Hợp tác sâu rộng không có nghĩa là phụ thuộc một chiều, cũng không chỉ dừng lại ở mở rộng thị trường. Giá trị cao nhất của hợp tác là giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng sức cạnh tranh, người lao động có thêm kỹ năng, địa phương có thêm năng lực phát triển và nền kinh tế củng cố khả năng chống chịu trước những biến động bên ngoài. Đó cũng là cách kết hợp hội nhập quốc tế với độc lập, tự chủ trong điều kiện mới.

Tuy nhiên, sẽ là thiếu đầy đủ nếu chỉ nhìn quan hệ hai nước qua các dự án hạ tầng, dòng vốn đầu tư và số liệu thương mại. Với hai quốc gia láng giềng có những mối liên hệ lịch sử, văn hóa và giao lưu nhân dân lâu đời, nền tảng xã hội luôn có ý nghĩa sâu xa. Năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc 2026-2027, các chương trình trao đổi thanh niên, giáo dục, văn hóa và giao lưu địa phương tạo điều kiện để người dân hai bên trực tiếp hiểu nhau hơn. Chính những trải nghiệm cụ thể ấy có thể biến thiện chí ngoại giao thành sự gần gũi và lòng tin xã hội.

Văn hóa ở đây không chỉ là hoạt động giao lưu bên lề các chương trình chính trị hay kinh tế. Văn hóa là nguồn lực của sức mạnh mềm, là phương thức bồi đắp sự thấu hiểu, tôn trọng bản sắc riêng và hình thành những kết nối bền vững giữa các thế hệ. Khi một người trẻ Việt Nam hiểu thêm về người dân Trung Quốc qua học tập, du lịch và sáng tạo; khi những sản phẩm văn hóa Việt Nam có điều kiện tiếp cận rộng hơn với công chúng nước bạn, nền tảng xã hội của quan hệ song phương cũng được củng cố theo cách tự nhiên và lâu dài.

Mặt khác, một quan hệ ổn định, trưởng thành phải có khả năng quản lý tốt những khác biệt. Tăng cường hợp tác không đồng nghĩa với né tránh các vấn đề còn tồn tại. Hai bên cần kiên trì đối thoại, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, xử lý bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việc duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông vừa là lợi ích thiết thân của các quốc gia liên quan, vừa là đóng góp có trách nhiệm cho môi trường phát triển chung của khu vực.

Trong bối cảnh Việt Nam và Trung Quốc đều có những mục tiêu phát triển dài hạn, giá trị chiến lược của chuyến thăm lần này nằm ở khả năng kết nối tầm nhìn chính trị với chương trình hợp tác thực chất, kết nối quan hệ giữa hai cơ quan lập pháp với lợi ích của người dân và kết nối quan hệ song phương với hòa bình, ổn định khu vực.

Suy cho cùng, sự bền vững của một quan hệ quốc tế không chỉ được đo bằng những tuyên bố tốt đẹp, mà được chứng minh qua cách các bên cùng tạo dựng lòng tin, tôn trọng khác biệt và chuyển những cam kết thành lợi ích cụ thể. Nếu phát huy được tinh thần ấy, chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn sẽ góp phần thúc đẩy ngoại giao nghị viện trở thành một kênh kiến tạo quan trọng, để quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục phát triển ổn định, lành mạnh, thực chất và hướng tới tương lai.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/ngoai-giao-nghi-vien-va-tam-nhin-ket-noi-chien-luoc-viet-nam-trung-quoc-455757.html