Nguồn cung LNG nào cho sản xuất điện Việt Nam?

Theo đánh giá của Bộ Công thương, Việt Nam có nhiều lựa chọn nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) từ Trung Đông, châu Á - Thái Bình Dương và Nga. Tuy...

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh dự kiến phát triển 15 dự án điện khí LNG với tổng công suất hơn 25,6GW. Vì vậy, bảo đảm nguồn cung LNG ổn định, lâu dài với giá cạnh tranh là yêu cầu cấp thiết để các dự án vận hành hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Nguồn cung LNG toàn cầu tiếp tục mở rộng

Báo cáo đánh giá khả năng nhập khẩu LNG cho sản xuất điện của Bộ Công thương cho thấy, trữ lượng khí tự nhiên toàn cầu đến cuối năm 2024 đạt khoảng 209 nghìn tỷ m3. Trong đó, Nga có trữ lượng lớn nhất với gần 47 nghìn tỷ m3, tiếp đến là Iran gần 34 nghìn tỷ m3, Qatar 23,8 nghìn tỷ m3 và Hoa Kỳ gần 18 nghìn tỷ m3.

Hiện nay, đã có một dự án LNG Nhơn Trạch 3,4 vào vận hành với công suất 1.624MW, dự án LNG Hiệp Phước giai đoạn 1 công suất 1.200 MW đang triển khai xây dựng. Còn lại các dự án khác đều chưa triển khai xây dựng. (Ảnh minh họa).

Hiện nay, đã có một dự án LNG Nhơn Trạch 3,4 vào vận hành với công suất 1.624MW, dự án LNG Hiệp Phước giai đoạn 1 công suất 1.200 MW đang triển khai xây dựng. Còn lại các dự án khác đều chưa triển khai xây dựng. (Ảnh minh họa).

Hoa Kỳ là quốc gia khai thác khí tự nhiên lớn nhất thế giới trong nhiều năm, với sản lượng đạt 925-1.073 tỷ m3/năm giai đoạn 2020-2025. Đứng thứ hai là Nga, duy trì sản lượng 586-702 tỷ m3/năm. Các quốc gia khai thác khí lớn khác gồm Canada, Na Uy, Iran, Qatar, Ả Rập Xê Út và Trung Quốc.

Cùng với hoạt động khai thác, năng lực sản xuất LNG toàn cầu tiếp tục được mở rộng. Đến cuối năm 2025, tổng công suất hóa lỏng khí đạt 524,5 triệu tấn/năm, tăng 30,1 triệu tấn so với năm 2024. Hoa Kỳ, Australia và Qatar là những quốc gia có công suất hóa lỏng hàng đầu thế giới.

Riêng năm 2025, Hoa Kỳ xuất khẩu 110,74 triệu tấn LNG, chiếm khoảng 25% tổng sản lượng LNG toàn cầu. Tiếp đến là Qatar với 81,5 triệu tấn, Australia 80,3 triệu tấn, Nga 30,5 triệu tấn và Malaysia 28,8 triệu tấn.

Ở chiều ngược lại, khoảng 50 quốc gia nhập khẩu LNG trong năm 2025, chủ yếu tập trung tại châu Á và châu Âu. Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 69,77 triệu tấn, dù giảm 8,9 triệu tấn so với năm trước. Các thị trường lớn khác gồm Nhật Bản, Đài Loan và Pháp.

Tại Việt Nam, Bộ Công thương đánh giá hạ tầng nhập khẩu LNG đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây.

Hiện Việt Nam có kho LNG Thị Vải với công suất tiếp nhận 1 triệu tấn/năm, dự kiến nâng lên 3 triệu tấn/năm và cảng LNG Cái Mép có công suất khoảng 3 triệu tấn/năm.

Bên cạnh đầu tư hạ tầng, các hợp đồng cung cấp LNG dài hạn cũng đã được ký kết, trong đó có hợp đồng với Shell cung cấp khoảng 400.000 tấn LNG/năm giai đoạn 2027-2031.

Trung Đông có tiềm năng cung cấp LNG lớn

Theo Bộ Công thương, Trung Đông, đặc biệt là Qatar, có tiềm năng trở thành nguồn cung LNG chủ lực cho Việt Nam nhờ trữ lượng dồi dào, năng lực sản xuất lớn và hệ thống hạ tầng xuất khẩu hoàn thiện.

Năm 2025, LNG từ Qatar chiếm khoảng 26,4% tổng lượng nhập khẩu LNG của Việt Nam.

Hoạt động sản xuất LNG của Qatar tập trung tại thành phố công nghiệp Ras Laffan, nơi có hệ thống hạ tầng hóa lỏng, xuất khẩu LNG quy mô lớn, kết hợp các cơ sở thu hồi và lưu trữ CO2.

Qatar đang triển khai các dự án North Field East và North Field South, dự kiến nâng tổng công suất hóa lỏng lên khoảng 142 triệu tấn/năm vào giai đoạn đến năm 2030.

Dự án LNG Nhơn Trạch 3,4 - dự án đầu tiên của Việt Nam vận hành thương mại.

Dự án LNG Nhơn Trạch 3,4 - dự án đầu tiên của Việt Nam vận hành thương mại.

Xét về vận chuyển, khoảng cách từ Qatar đến Việt Nam xa hơn so với Indonesia, Malaysia và Nga, nhưng ngắn hơn các tuyến vận chuyển từ Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, nguồn cung LNG từ Trung Đông cũng tiềm ẩn rủi ro địa chính trị. LNG xuất khẩu từ Qatar đến Việt Nam phải đi qua eo biển Hormuz, tuyến hàng hải nhạy cảm trước những biến động chính trị và an ninh trong khu vực.

Điều này đặt ra yêu cầu cân nhắc giữa lợi thế về quy mô nguồn cung và khả năng bảo đảm vận chuyển ổn định khi lựa chọn nhập khẩu LNG từ Trung Đông.

Australia, Malaysia có lợi thế về vận chuyển

Bên cạnh Trung Đông, khu vực châu Á - Thái Bình Dương có nhiều nguồn cung LNG tiềm năng cho Việt Nam, đáng chú ý là Australia, Malaysia và Indonesia.

Australia có trữ lượng khí tự nhiên khoảng 4 nghìn tỷ m3. Dù thấp hơn nhiều so với Qatar, quốc gia này vẫn là một trong những nhà xuất khẩu LNG lớn nhất thế giới.

Năm 2025, Australia xuất khẩu 80,3 triệu tấn LNG, đứng thứ ba toàn cầu, chiếm gần 19% và có sản lượng xấp xỉ Qatar.

Các dự án LNG lớn tập trung tại Tây Australia, gồm North West Shelf LNG công suất 16,9 triệu tấn/năm, Gorgon LNG 15,6 triệu tấn/năm và Wheatstone LNG 8,9 triệu tấn/năm.

Lợi thế của Australia là hệ thống cảng xuất khẩu nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế, thuận lợi vận chuyển LNG đến thị trường châu Á, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt, các tuyến vận chuyển này không phải đi qua những điểm nghẽn địa chính trị như eo biển Hormuz.

Dù vậy, khả năng cung cấp LNG xuất khẩu của Australia trong tương lai có thể chịu tác động từ các chính sách bảo đảm an ninh năng lượng nội địa, trong đó có Cơ chế bảo đảm an ninh khí đốt trong nước (ADGSM).

Đối với Malaysia, lợi thế lớn nhất là khoảng cách địa lý gần Việt Nam.

Năm 2025, Malaysia xuất khẩu 28,8 triệu tấn LNG, đứng thứ năm thế giới. Hạ tầng LNG của nước này chủ yếu tập trung tại tổ hợp Bintulu thuộc bang Sarawak.

Khoảng cách vận chuyển từ Bintulu đến khu vực Đông Nam Bộ của Việt Nam chỉ khoảng 1.000-1.500 hải lý, thuộc nhóm tuyến vận chuyển ngắn nhất trong số các nguồn cung LNG quốc tế.

Tuy nhiên, triển vọng nhập khẩu LNG dài hạn từ Malaysia cũng đối mặt với khó khăn. Theo thông tin được Bộ Công thương dẫn từ Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), một số mỏ khí truyền thống của Malaysia đã bước vào giai đoạn suy giảm, trong khi nhu cầu sử dụng khí trong nước có xu hướng tăng.

Do đó, xuất khẩu LNG của Malaysia được dự báo tăng chậm hoặc giảm nhẹ trong dài hạn nếu không có thêm các dự án khí quy mô lớn đi vào vận hành.

Nguồn cung từ Nga chịu tác động của các lệnh trừng phạt

Nga là quốc gia có trữ lượng khí tự nhiên lớn nhất thế giới, với gần 47 nghìn tỷ m3, chiếm khoảng 21% tổng trữ lượng toàn cầu.

Nguồn tài nguyên khí của Nga chủ yếu phân bố tại Siberia, bán đảo Yamal và đảo Sakhalin. Sản lượng khai thác bình quân đạt khoảng 640-650 tỷ m3/năm.

Trước đây, khí tự nhiên của Nga chủ yếu được xuất khẩu sang châu Âu thông qua hệ thống đường ống. Tuy nhiên, sau năm 2022, khi nhu cầu nhập khẩu khí Nga của châu Âu giảm mạnh, nước này đẩy nhanh chuyển hướng sang xuất khẩu LNG, đặc biệt tại thị trường châu Á.

Theo Chiến lược năng lượng đến năm 2050, Nga đặt mục tiêu nâng tổng công suất LNG lên khoảng 90-100 triệu tấn/năm vào năm 2030.

Dù có tiềm năng nguồn cung lớn, việc thực hiện mục tiêu này đang gặp khó khăn do các lệnh trừng phạt từ Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu.

Như vậy, đánh giá của Bộ Công thương cho thấy, Việt Nam có khả năng tiếp cận nhiều nguồn LNG quốc tế, song mỗi thị trường đều có những hạn chế nhất định. Qatar có lợi thế về quy mô sản xuất, Australia và Malaysia thuận lợi về vận chuyển, trong khi nguồn cung từ Nga chịu tác động của các lệnh trừng phạt.

Việc đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, phát triển hạ tầng tiếp nhận và ký kết các hợp đồng cung cấp dài hạn vì thế là những yếu tố cần được tính đến nhằm bảo đảm nguồn nhiên liệu cho sản xuất điện.

Hồng Hạnh

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/nguon-cung-lng-nao-cho-san-xuat-dien-viet-nam-192261026164037421.htm