Ngưỡng miễn thuế tăng 40%, sức mua cải thiện, cổ phiếu tiêu dùng nào tiềm năng?
KBSV đánh giá cao VNM, MSN, VHC và FMC nhờ vị thế dẫn đầu trong ngành và sở hữu lợi thế cạnh tranh nhất định.

Ảnh minh họa.
Chứng khoán KBSV vừa đưa ra cập nhật về triển vọng ngành tiêu dùng trong năm 2026 trong đó nhấn mạnh VNM, MSN, VHC và FMC nhờ vị thế dẫn đầu trong ngành và sở hữu lợi thế cạnh tranh nhất định.
Trong cuối 2025, nhà nước đã phê duyệt tăng mức miễn thuế từ 11 triệu lên 15 triệu đồng và mức giảm trừ người phụ thuộc từ 4,4 triệu đồng lên 6,2 triệu đồng, có hiệu lực từ 2026. Điều này giúp tăng ngưỡng miễn thuế tăng khoảng 40% so với trước đây, đem lại thu nhập khả dụng và sức mua cải thiện đáng kể.
Mặc khác, nhu cầu đầu tư lớn của toàn xã hội và cá nhân phần nào sẽ tiếp tục hạn chế tăng trưởng của các mặt hàng tiêu dùng, dự kiến tăng ở mức 1 con số trung bình.
Về triển vọng phục hồi và tăng trưởng trong 2026, kì vọng VNM và MCH/MSN sẽ hưởng lợi đáng kể với các quy định thuế mới. Cả hai doanh nghiệp đều sở hữu mô hình sản xuất và bán hàng với quy mô lớn, thương hiệu có độ nhận diện cao và đầu tư mạnh mẽ vào sản phẩm.
Đặc biệt, cả hai đều đầu tư vào chuỗi giá trị bán lẻ hiện đại trực tiếp và gián tiếp, hưởng lợi từ sự dịch chuyển trong thói quen tiêu dùng, giúp duy trì vị thế dẫn đầu. Với MCH, sự mở rộng của chuỗi Winmart (số cửa hàng + 16% so với cùng kỳ trong 11T-2025) đem lại không gian tăng trưởng cho kênh hiện đại trong bối cảnh kênh truyền thống không ổn định.
Đối với VNM, doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào chuỗi cửa hàng bán lẻ riêng với mục tiêu 700 cửa hàng trên toàn quốc, đồng thời làm việc sát sao với các cửa hàng truyền thống để chuyển đổi mô hình.
KBSV dự báo lợi nhuận sau thuế của VNM và MCH sẽ tăng trưởng lần lượt 9,9% và 9,8% so với cùng kỳ trong 2026, với dòng tiền CFO mạnh mẽ và khả năng trả cổ tức tiếp tục cải thiện.
Với nhóm chăn nuôi, trong bối cảnh dịch tả heo châu Phi (ASF) vẫn diễn biến phức tạp và rủi ro sinh học cao, mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ tiếp tục thu hẹp mạnh mẽ do thiếu vốn tái đàn và không đảm bảo an toàn sinh học. Đây là "thời cơ vàng" để các doanh nghiệp công nghiệp với quy mô lớn, quy trình khép kín từ con giống đến chế biến, giúp duy trì chi phí tối ưu trong bối cảnh giá bán biến động với biên độ rộng.
Kì vọng sản lượng bán hàng của các doanh nghiệp niêm yết, bao gồm heo hơi (BAF, DBC, HPA )và thịt đã qua chế biến (BAF, MML) sẽ tiếp tục xu hướng tăng và cải thiện đáng kể trong 2026. Trong các doanh nghiệp, BAF sẽ là doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng tốt nhất về sản lượng trong 2026, nhờ chiến lược mở rộng thông qua thâu tóm các trang trại nhỏ hoạt động không hiệu quả.
Thói quen mua sắm dịch chuyển sang kênh bán lẻ hiện đại cũng sẽ là 1 yếu tố tác động đến sản lượng tiêu thụ của các doanh nghiệp niêm yết, đặc biệt là BAF và MML. Về giá bán, nguồn cung hạn chế sẽ phần nào đẩy mức giá bán lên cao trong giai đoạn cao điểm từ quý 4-2025 đến quý 1-2026, tương tự như giai đoạn trong 2024-2025, đem lại triển vọng khả quan cho nhóm doanh nghiệp chăn nuôi, với lợi thế quy mô lớn và tỉ lệ nuôi thành công vượt trội so với ngành.
Tuy nhiên, nguồn cung trong nửa cuối năm 2026 kì vọng sẽ phục hồi tốt theo tính chu kì ngành, có xu hướng khiến giá bán giảm. Nhìn chung, giá heo hơi trung bình của các doanh nghiệp sẽ tiếp tục duy trì ở mức quanh 60 nghìn/kg, tương đương mức trung bình của 2025.
Với nhóm thủy sản, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đang đối mặt với nhiều khó khăn nhất định bao gồm mức thuế chống bán phá giá sơ bộ cao đối với tôm, cạnh tranh gay gắt hơn giữa các doanh nghiệp cá tra Việt Nam (thêm 6 doanh nghiệp được hưởng thuế 0%) và mức thuế của Mỹ giảm mạnh xuống 20% đối với Trung Quốc (ngang với Việt Nam)
Với hai doanh nghiệp niêm yết VHC và FMC, mở rộng và đa dạng hóa sang các thị trường khác sẽ là chiến lược chính trong 2026 trong bối cảnh thị trường Mỹ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kì vọng sản lượng của VHC và FMC đi ngang so với cùng kì với mức giá bán thấp hơn từ 3%-5% do đa dạng hóa ra khỏi thị trường Mỹ - vốn có mức giá cao hơn.
Tuy vậy, biên lợi nhuận của FMC có thể được cải thiện hơn nhờ đa dạng hóa sang các thị trường có biên lợi nhuận cao hơn thị trường Mỹ vốn chịu nhiều chi phí tuân thủ do mức thuế chống bán phá giá cao). Đối với VHC, biên lợi nhuận ổn định, được hỗ trợ bởi dịch chuyển doanh thu sang C&G và các sản phẩm bánh phồng & sản phẩm từ gạo.
Trong bối cảnh thị trường 2026 dự kiến kém sôi động, mô hình kinh doanh tự chủ nguyên liệu không hoàn toàn (VHC 70%, FMC 30%) cho phép doanh nghiệp linh hoạt cắt giảm nguồn thu mua ngoài để tương thích với sức cầu từ đơn hàng mà không gánh chịu rủi ro dư thừa công suất quá lớn, qua đó bảo vệ biên lợi nhuận hiệu quả.
Từ những phân tích trên, KBSV đánh giá cao VNM, MSN, VHC và FMC nhờ vị thế dẫn đầu trong ngành và sở hữu lợi thế cạnh tranh nhất định.
Đối với tiêu dùng nội địa, điểm nhấn chính là triển vọng tăng trưởng và phục hồi tích cực sẽ giúp VNM và MSN ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận đáng kể. So với mức giá ở thời điểm hiện tại, MSN là sự lựa chọn hấp dẫn với chuỗi bán lẻ hiện đại tăng trưởng cao và sự phục hồi của mảng hàng tiêu dùng (MCH) trong 2026.
Đối với thủy sản xuất khẩu, dù triển vọng ở mức trung bình, chúng tôi nhận thấy mức định giá hấp dẫn là yếu tốt chính của quan điểm đầu tư ở thời điểm hiện tại với PE và PB của VHC và FMC đều ở mức chiết khấu sâu so với trung bình quá khứ.













