Nhớ nhà văn Triệu Bôn - một tiếng lòng trung thực

Trong Tự bạch in ở Tổng tập Nhà văn Quân đội, nhà văn Triệu Bôn rất trung thực khi tự đánh giá về chính mình: “Tôi là một trong muôn vàn cuộc đời lớn lên trong quân ngũ và ở chiến trường. Cách mạng và quân đội là mối ân sâu nghĩa nặng đối với tôi, trọn đời tôi dành tình yêu thương, kính trọng cho những người lính chiến đấu vì nhân dân, Tổ quốc. Tôi cam phận suốt đời nghèo, để có một đời văn chương. Nhưng phải thú nhận rằng, cái nghèo đã và đang tác động rất nguy hại đến công việc sáng tạo các tác phẩm. Tôi cảm thấy tôi chưa viết được cái gì tương xứng với ước mơ và ý định của mình.”

Nhà văn Triệu Bôn (phải) và nhà văn Phạm Quang Đẩu.

Nhà văn Triệu Bôn (phải) và nhà văn Phạm Quang Đẩu.

1. Nhà văn Triệu Bôn là người rất biết đặt tên sách. Cô đọng. Khơi gợi. Ấn tượng và ám ảnh: Mầm sống; Lửa than; Rừng lá đỏ; Rạng sáng; Tiểu đoàn trong vòng vây; Gã đau đời; Sao chiếu mệnh bay lạc; Kẻ trọng tội; Một phút nửa đời người;...

Thế hệ sau như chúng tôi luôn rất khâm phục các thế hệ nhà văn đi trước, không chỉ cách nhập cuộc mà cả cái cách sẵn sàng đẩy đến tận cùng thân phận nhân vật trong các sáng tác của mình, từ tên tác phẩm đến những câu chữ dữ dội, không né tránh.

Nhà văn Triệu Bôn là một trong số nhà văn quân đội sớm có mặt ở chiến trường ác liệt trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Tiếp đó ông đi B, có mặt trong đội ngũ văn nghệ Quân Giải phóng cùng với Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Văn Lê,... Ông với nhà văn Nguyễn Trọng Oánh vô cùng thân thiết từ những ngày trong bão lửa chiến trường tới hòa bình trở về với đói nghèo, bệnh tật bủa vây và đều mất khá sớm khi đang ở độ chín của tài năng. Nhà văn Triệu Bôn mất năm 2003 khi mới 65 tuổi. Năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt 3 với các tác phẩm: “Cơn co giật của đất” (tiểu thuyết); “Mầm sống” (truyện ngắn). Đây chính là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước với nhà văn Triệu Bôn - một trong những nhà văn tiêu biểu của đội ngũ nhà văn chiến sĩ.

Hành trình công tác của nhà văn Triệu Bôn luôn khiến thế hệ chúng tôi phải khâm phục. Triệu Bôn tên khai sinh là Lê Văn Sửu, ông sinh ngày 18/1/1938 tại thôn Kim Bôi, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình nông dân. Ông sớm tham gia quân đội từ trong kháng chiến chống Pháp, từng là chiến sĩ trực tiếp cầm súng chiến đấu. Tiếp đó ông tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm và làm giáo viên trong quân đội. Do có năng khiếu văn học và báo chí, Triệu Bôn được điều về làm phóng viên báo Quân khu Việt Bắc. Từ năm 1970, Triệu Bôn vào chiến trường, tham gia Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, tiếp đó ông vào Mặt trận B2, trở thành Biên tập viên Văn nghệ Quân Giải phóng. Sau dấu mốc giải phóng miền Nam 1975, Triệu Bôn ra Hà Nội làm Trưởng ban biên tập văn xuôi của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Sau đó ông chuyển ngành, làm Trưởng ban biên tập báo Người Hà Nội, Tổng biên tập Tạp chí Du lịch Việt Nam, chuyên viên cao cấp của Bộ Văn hóa - Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam.

Khái quát hành trình công tác của ông như vậy để thấy được hành trình của các nhà văn quân đội trong đó có nhà văn Triệu Bôn luôn là hành trình sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ được phân công, sẵn sàng trên tuyến đầu đánh giặc, cả đời phục vụ nhân dân và Tổ quốc, tuyệt không đòi hỏi riêng gì cho cá nhân mình. Chính điều đó đã làm nên một đội ngũ nhà văn quân đội tài năng và tâm huyết, góp phần xây đắp nên những thành tựu lớn của nền văn học cách mạng Việt Nam.

2. Thế hệ chúng tôi, khi đứng trong đội hình các nhà văn quân đội, nhất là khi chịu trách nhiệm thực hiện công tác nối tiếp các chú, các anh ở Văn nghệ Quân đội càng thấm thía sâu sắc một điều rằng, với văn học nghệ thuật, nhất là khu vực văn học nghệ thuật trong quân đội, thì sự gương mẫu, sẵn sàng hy sinh, cống hiến tận lực trí tuệ và khát vọng của mình luôn là điều hạnh phúc nhất.

Các nhà văn ở Văn nghệ Quân đội cùng thời với Triệu Bôn bây giờ đều đã đi xa cả. Những cái tên quen thuộc Hồ Phương, Xuân Thiều, Hữu Mai, Thu Bồn, Lưu Trùng Dương, Nguyễn Trọng Oánh, Phạm Ngọc Cảnh, Nam Hà,... bây giờ đã là những di ảnh trên bức tường quen thuộc trong phòng giao ban của cơ quan. Mỗi lúc ngồi một mình trong căn phòng dài với vô số bức ảnh đen trắng trên tường, tôi chỉ biết im lặng nhìn vào đôi mắt các vị tiền nhân rồi nhìn ra phía bên ngoài, nơi có vòm mái nhà cổ kính, có cặp sóc nhỏ chạy rí rách trên những tầng cây cổ thụ mà thấy lòng dạ bâng khuâng, trống trải. Cuộc đời con người ta kể cũng dài mà cũng ngắn ngủi lắm thay!

Nhà văn Triệu Bôn là một người quyết liệt, nhất là đối với nghề văn. Điều đó là rất cần thiết nhưng không phải lúc nào và ở đâu điều đó cũng dễ dàng được chấp nhận, dù người góp ý đều là những đồng đội chí thân. Chuyện rằng Triệu Bôn tranh cãi với nhà văn Nguyễn Minh Châu, chỉ vì một trận đánh Nguyễn Minh Châu tả kém quá trong tiểu thuyết “Dấu chân người lính”. Nguyễn Minh Châu giận Triệu Bôn mấy tháng trời. Sau giảng hòa, Nguyễn Minh Châu bảo Triệu Bôn: Cậu góp ý kiểu ấy, đau lắm. Triệu Bôn ôm chầm lấy Nguyễn Minh Châu: “Anh em mình dàn hòa anh nhé”… Rồi Nguyễn Minh Châu ra đi, Triệu Bôn viết lời tiễn biệt. Nhà văn Bùi Hiển đọc được, nhẹ nhàng bảo: “Bôn ơi, tớ đặt cậu viết cho tớ một bài. Ấy là khi tớ ra đi như Nguyễn Minh Châu, cậu hãy viết cho tớ ít dòng”. Tiếc thay, Triệu Bôn đã đi trước Bùi Hiển. Câu chuyện thật xúc động mà nay các ông đều đã ra đi.

Nhà văn Triệu Bôn (trái) và nhà văn Nam Hà tại chiến trường miền Nam.

Nhà văn Triệu Bôn (trái) và nhà văn Nam Hà tại chiến trường miền Nam.

3. Nhà văn Triệu Bôn là một trong số ít nhà văn dám bước vào vùng đất khó trong văn học. Chúng ta đã có những quan liêu, khinh suất trong thời quan liêu bao cấp dài và nặng nề với những hệ lụy không hề nhỏ với đời sống của nhân dân. Nhất là vấn đề ruộng đất và nông dân đã diễn ra những sai lầm mà các nhà văn không phải ai cũng dám xông vào vùng đất khó ấy. Triệu Bôn thì khác. Với cá tính và tư duy của một nhà văn chiến sĩ, Triệu Bôn đã dũng cảm xông vào và thể hiện một tác phẩm quan trọng nhất trong đời văn của ông - đó là tiểu thuyết Cơn co giật của đất gây xôn xao văn đàn một thời và cho văn giới một cái nhìn hoàn toàn khác về ông. Văn Triệu Bôn trong Cơn co giật của đất đã tinh tế và buốt nhói, mạnh mẽ và sắc sảo, hư ảo và trầm tư ở một tầng sâu của con  người mà chỉ có ở những nhà văn tài năng dám dấn thân vào cái khó mới viết ra được. Cơn co giật của đất đến hôm nay vẫn còn mang tính thời sự và là một dấu mốc quan trọng của nền văn học được xây đắp bởi đội ngũ các nhà văn chiến sĩ.

Trong dấu mốc các hoạt động kỷ niệm 70 năm Văn nghệ Quân đội ra số đầu tiên (1/1957 - 1/2027), đội ngũ nhà văn quân đội chúng tôi ai nấy đều hào hứng với phần việc được phân công. Chúng tôi khẩn trương thực hiện tập Kỷ yếu với Nhà xuất bản Giáo dục; bộ sách Các gương mặt Giải thưởng Hồ Chí Minh ở Văn nghệ Quân đội với 8 nhà văn: Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hữu Mai, Thu Bồn, Hồ Phương, Xuân Thiều, Hữu Thỉnh đã thấy được tài hoa sức vóc và nhất là thành tựu văn chương của một thế hệ đã đem hết trí tuệ, khát vọng của mình cống hiến cho nền văn học cách mạng. Ở đội ngũ 32 nhà văn đạt Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật trong đó có nhà văn Triệu Bôn càng cho thấy sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ luôn rất đáng trân trọng. Từ nền tảng và niềm tin ấy, từ khát vọng và những thành tựu đã đạt được, thế hệ nhà văn quân đội hôm nay sẽ càng mạnh mẽ và đủ bản lĩnh, trí tuệ, tiếp tục hoàn thành công việc của người đi trước, tiếp tục có những cống hiến xứng đáng trong công cuộc đổi mới của chúng ta.

Triệu Bôn (tên khai sinh là Lê Văn Sửu) sinh ngày 18/1/1938 tại thôn Kim Bôi, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, nay là phường Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Triệu Bôn xuất thân trong gia đình nông dân, học trung học ở quê, tham gia quân đội từ trong kháng chiến chống Pháp, từng là chiến sĩ trực tiếp cầm súng chiến đấu. Ông đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm Vinh khoa Toán và làm giáo viên trong quân đội. Do có năng khiếu văn học, báo chí, ông được điều về làm phóng viên báo Quân khu Việt Bắc. Từ những năm 1970 trở đi, ông vào mặt trận Đường 9 - Khe Sanh rồi mặt trận B2, làm biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

Khi thống nhất đất nước, ông trở về Hà Nội, làm Trưởng ban biên tập văn xuôi của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Mấy năm sau, ông chuyển ngành, làm Trưởng ban biên tập báo Người Hà Nội, Tổng biên tập Tạp chí Du lịch Việt Nam.

Triệu Bôn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1970.

Ông mất ngày 7/ 9/2003.

Đời văn chương Triệu Bôn đã để lại tổng cộng 27 đầu sách gồm hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong chiến tranh là: "Mầm sống", "Lửa than". Sau ngày hòa bình là: "Rừng lá đỏ", "Rạng sáng", "Tiểu đoàn trong vòng vây", "Gã đau đời", "Một phút và nửa đời người", "Sao chiếu mệnh bay lạc", "Kẻ trọng tội", "Ngồi một chỗ thấy ngoài ngàn dặm", "Cơn co giật của đất"...

Tiểu thuyết "Một phút và nửa đời người" của Triệu Bôn đã được nhà biên kịch Trần Quốc Huấn chuyển thể thành bộ phim "Phần đời không muốn nhớ" đã công chiếu trên truyền hình.

Năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật với cụm tác phẩm: “Mầm sống” (truyện ngắn); “Cơn co giật của đất” (tiểu thuyết).

Phùng Văn Khai

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nho-nha-van-trieu-bon-mot-tieng-long-trung-thuc.html