Những công trình tự tin thời hậu thuộc địa

Giữa bối cảnh xã hội Việt Nam hậu thuộc địa chưa hết dấu vết thẩm mỹ hoài cổ và kiến trúc Đông Dương, các công trình của KTS. Ngô Viết Thụ đã tạo ra một cuộc đối thoại mạnh mẽ, mang đến vẻ đẹp của sự tự tin và tinh thần kiến tạo hiện đại.

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn hậu thuộc địa, tìm kiếm một ngôn ngữ mang tính kiến tạo là một hành trình dài. Kiến trúc được xem như địa hạt tiên phong trong việc tạo ra diện mạo của đất nước, kết nối ý chí nhà nước và không gian sống của công dân. Ngô Viết Thụ với các công trình mang thẩm mỹ hiện đại vào thập niên 1960 đã tạo ra một cơ sở thuyết phục cho việc giải thực về cấu trúc không gian. 

Vào thập niên 1950, kiến trúc ở cả Hà Nội lẫn Sài Gòn vẫn có nét nối dài thẩm mỹ trang trí Art-Deco của các thập niên trước đó, mặc dù đã tiến tới những mô hình của phong cách hiện đại (modernism). Ở Hà Nội, từ sau năm 1954, sự ảnh hưởng của các trào lưu kiến trúc hiện đại thường qua bộ lọc hình mẫu các kiểu thức chiết trung của các nước Trung Quốc, Triều Tiên và muộn hơn chút là Liên Xô.

Hầu hết các công trình ở các địa phương như cơ sở giáo dục, hội trường, nhà hành chính… đều lặp lại cấu trúc các ngôi nhà hành lang bên, mái ngói với hệ vì kèo thừa kế kiến trúc thuộc địa. Trước khi các công trình mang tính công nghiệp và các khu nhà ở lớn ra đời, những công trình công cộng tiên phong ở Hà Nội, Hải Phòng hay Thái Nguyên thường nặng tính trang nghiêm kiểu đại lễ đường hay các đấu xảo, nệ các chi tiết trang trí giả cổ, vẫn là một sự nối dài của thẩm mỹ kiến trúc quá khứ. 

Dinh Độc Lập nhìn từ trên cao. Ảnh: Znews

Dinh Độc Lập nhìn từ trên cao. Ảnh: Znews

Tại Sài Gòn và nhiều đô thị miền Nam, việc giả cổ cũng khá thịnh hành khi nhu cầu tạo ra hình ảnh hoài niệm các kiến trúc cổ truyền ở miền Bắc của người di cư tạo ra các cơ sở tôn giáo như chùa Phật giáo, nhà thờ Thiên chúa giáo. Các công trình dùng kết cấu bê tông để diễn tả cấu trúc cột-xà-kẻ, đặc biệt là các mái đao cong cùng các họa tiết đắp vữa cố gắng trung  thành với bản gốc.

Cách thức này vốn dĩ đã thịnh hành từ kiểu “kiến trúc Đông Dương” do các kiến trúc sư người Pháp thực hiện từ thập niên 1920, mà dấu ấn đậm nét nhất là tòa nhà nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM và đền thờ vua Hùng trong Thảo cầm viên. Bản thân người Pháp cũng tạo ra một cảm thức bản địa nhiều nét hương xa ở các công trình dạng này, như một sự kiến lập thẩm mỹ của chính họ trên cái khung quen thuộc Tây phương hơn là một sự tiếp biến thật sự. 

Trong bối cảnh đó, các công trình như tòa nhà Trường Đại học Sư phạm Huế (Viện Đại học Huế), Nhà thờ Phủ Cam và Dinh Độc Lập cùng nhiều công trình khác của Ngô Viết Thụ đi tìm một cách giải quyết khác hẳn. Các mô thức truyền thống được tái lập mang tính cách điệu và hình học hóa, thay vì phỏng hình thức nguyên dạng. Cách xử lý ánh sáng, thông gió bằng hệ cửa và lam bê tông chắn nắng ba chiều ở mặt đứng Dinh Độc Lập và Đại học Sư phạm Huế trở thành bản sắc công trình, trong khi các đặc điểm hoa mỹ ở bề mặt được chuyển hóa thành các đồ án phù điêu ở các vị trí khiêm tốn hơn nhiều so với mô hình Đông Dương. 

Nhà thờ Phủ Cam đem tới một ấn tượng mạnh mẽ, cô đọng, với mặt tiền dạng vòng cung có đường lượn bờ nóc vươn dần lên cao về hai tháp

Nhà thờ Phủ Cam đem tới một ấn tượng mạnh mẽ, cô đọng, với mặt tiền dạng vòng cung có đường lượn bờ nóc vươn dần lên cao về hai tháp

Nhà thờ Phủ Cam lại đem tới một ấn tượng mạnh mẽ, cô đọng, với mặt tiền dạng vòng cung có đường lượn bờ nóc vươn dần lên cao về hai tháp. Ở đây trên bề mặt chất liệu bê tông đá rửa kẻ mạch so le giả đá, kiến trúc sư đã dùng thủ pháp xẻ khe làm hệ cửa sổ chạy dọc vừa làm nhẹ bớt sự đồ sộ của khối tích, cũng như tạo nét nhấn chiều dọc khiến công trình như cao thêm. 

Điều đặc biệt là cả ba công trình đều xây dựng mới trên nền các công trình kiến trúc Tân cổ điển (Dinh Norodom, Tòa Khâm sứ Trung Kỳ) và Baroc (Nhà thờ Phủ Cam) từ thời Pháp, trong đó có công trình đã thành biểu tượng của nền thuộc địa. Tính chất hiện đại của các công trình của Ngô Viết Thụ thực sự làm nên cuộc đối thoại với quá khứ thuộc địa, thậm chí thách thức diễn ngôn quyền lực của thẩm mỹ thực dân. Các bộ mái manchard lợp đá, các thức cột La Mã, các kiểu cửa sổ “trong kính ngoài chớp”, hay các điêu khắc hoa mỹ đã vắng bóng. Trừ nhà thờ Phủ Cam, hầu hết các công trình của Ngô Viết Thụ không còn những bộ mái dốc kiểu Tây. 

Các công trình khá nhất quán về ngôn ngữ, tạo ra một đặc điểm kiến trúc lấy chất liệu làm cơ sở cho thẩm mỹ, chẳng hạn các tầng lầu là những mảng đặc rỗng bê tông trắng và đá rửa xám xen kẽ, tầng trệt là khối đặc chắc của đá khối xếp xen kẽ với hoa sắt mảnh mai của các ô cửa, tạo nên sự vững vàng và bề thế cho dù công trình không quá cao tầng. Những đặc điểm này có ở Dinh Độc Lập lẫn tòa nhà của Đại học Nông Lâm.

Ngay cả công trình được cho là đã bị sửa đổi thiết kế như nhà thờ giáo xứ Vĩnh Long vẫn có thể thấy sự táo bạo của ý tưởng ban đầu chung với các công trình khác cùng tác giả, khi mặt tiền là một khối đồ sộ gần như đặc được đỡ bằng một hệ cột mảnh mai ở tầng trệt, đặt trên một hệ bậc cấp tôn chủ thể lên cao.

Đầu mái gợn sóng của quần thể Đại học Sư phạm Huế - Khách sạn Hương Giang - Khách sạn Century, gợi hình ảnh sóng nước sông Hương

Đầu mái gợn sóng của quần thể Đại học Sư phạm Huế - Khách sạn Hương Giang - Khách sạn Century, gợi hình ảnh sóng nước sông Hương

Các công trình của Ngô Viết Thụ có một sự thoải mái khi được đặt trong một khung cảnh quy hoạch tốt và cảnh quan được tính toán đồng bộ. Chúng bộc lộ tâm thế kiến tạo đậm nét, đặc biệt khi kết nối cùng một hệ thống các công trình cùng  thời, góp phần đem lại một hình ảnh nhận diện đô thị miền Nam trong dòng chảy kiến trúc quốc tế. Sau năm 1975, một số công trình của Ngô Viết Thụ như Khách sạn Hương Giang ở Huế cũng tiếp nối ngôn ngữ và việc sử dụng vật liệu này, đồng thời tiếp tục ảnh hưởng đến các công trình giai đoạn trước Đổi mới ở khắp cả nước.

Sau một giai đoạn lan tràn của các công trình sử dụng vỏ bọc kính và tấm nhôm, cũng như các giải pháp xây dựng nhanh, việc tái khám phá tinh thần hiện đại của các công trình kiến trúc như của Ngô Viết Thụ là một sự cần thiết. Ở đó người ta đọc được vẻ đẹp của sự tự tin, của một tinh thần mạnh dạn kiến tạo, từ bỏ các ảnh hưởng dễ quyến rũ của việc phô diễn quyền lực từ những mô thức cổ điển đã bám rễ từ thời thuộc địa. Giữa những vật lộn đi tìm bản sắc cho đô thị và không gian sống tiên tiến, những cấu trúc này là một cách giải đáp. 

Bài: Nguyễn Trương Quý - Ảnh: NgoViet Library

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/nhung-cong-trinh-tu-tin-thoi-hau-thuoc-dia-53786.html