Những điểm mới về trợ cấp thất nghiệp theo Luật Việc làm 2025
Luật Việc làm 2025 làm rõ điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, đặt ra yêu cầu mới về quản trị nhân sự trong bối cảnh thị trường lao động biến động.

Luật Việc làm 2025 (Luật số 74/2025/QH15), được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025 và có hiệu lực từ 1/1/2026, đánh dấu lần sửa đổi toàn diện Luật Việc làm 2013.
Trọng tâm của bộ luật này là mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, điều chỉnh linh hoạt cơ chế đóng, rút ngắn thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp và đơn giản hóa thủ tục hành chính, qua đó tăng cường bảo vệ quyền lợi người lao động, nâng cao kỹ năng nghề và hướng tới phát triển thị trường lao động bền vững.
Bối cảnh thị trường lao động trước khi Luật Việc làm 2025 có hiệu lực
Theo thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV/2025 ước tính khoảng 1,07 triệu người, tăng 13,1 nghìn người so với quý trước và tăng 16,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở mức 2,22%, giảm nhẹ 0,01 điểm phần trăm so với quý III và tương đương cùng kỳ năm 2024; trong đó, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị tiếp tục được duy trì dưới ngưỡng 3%.
Tính chung cả năm 2025, Việt Nam có khoảng 1,06 triệu người thất nghiệp trong độ tuổi lao động, tăng nhẹ 2,8 nghìn người so với năm trước. Tuy vậy, tỷ lệ thất nghiệp bình quân năm đạt 2,22%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với năm 2024, cho thấy thị trường lao động tiếp tục xu hướng cải thiện và dần ổn định quanh ngưỡng trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát.

Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động theo quý, giai đoạn 2022-2025. Nguồn: Cục Thống kê.
Trong bối cảnh thị trường lao động Việt Nam chịu tác động mạnh từ tái cơ cấu doanh nghiệp, chuyển đổi số và các biến động kinh tế vĩ mô, Luật Việc làm 2025 tiếp tục đặt bảo hiểm thất nghiệp ở vị trí trung tâm của hệ thống an sinh xã hội. Các quy định tại Điều 38 và Điều 39 làm rõ điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, đồng thời đặt ra những yêu cầu ngày càng chặt chẽ đối với công tác quản trị nhân sự và tuân thủ pháp luật lao động của doanh nghiệp.
Những điểm mới về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp
Điều 38 Luật Việc làm 2025 quy định rõ người lao động chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đồng thời các điều kiện mang tính bắt buộc. Trước hết, người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc một cách hợp pháp. Luật tiếp tục loại trừ các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, hoặc người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu hay trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.

Nhiều hồ sơ trợ cấp thất nghiệp bị từ chối do người lao động đã có việc làm mới hoặc không chứng minh được tình trạng thất nghiệp. Ảnh: Internet
Về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, luật giữ nguyên nguyên tắc tối thiểu 12 tháng đóng bảo hiểm. Cụ thể, người lao động phải có từ đủ 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên trong vòng 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn; hoặc trong vòng 36 tháng đối với một số loại hợp đồng đặc thù theo quy định. Đây là điều kiện then chốt nhằm bảo đảm tính đóng - hưởng của chính sách.
Một điểm quan trọng khác là yêu cầu nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo đúng thời hạn. Theo luật, người lao động phải thực hiện thủ tục này trong vòng 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng. Sau khi nộp hồ sơ, nếu sau 15 ngày mà người lao động chưa có việc làm thì mới đủ điều kiện để được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, trừ các trường hợp đặc biệt được luật quy định.
Trong thực tế, nhiều trường hợp hồ sơ bị từ chối không phải do thiếu thời gian đóng bảo hiểm, mà do người lao động đã ký hợp đồng lao động mới trong thời gian chờ giải quyết hoặc không chứng minh được tình trạng chưa có việc làm. Điều này đòi hỏi sự minh bạch cả từ phía người lao động lẫn doanh nghiệp khi xác nhận thông tin liên quan.
Điều 38, Luật Việc làm 2025 quy địnhngười lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1) Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà không thuộc một trong các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.
2) Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
3) Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.
4) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không thuộc một trong các trường hợp có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng hoặc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài định cư hoặc chết.
Cách xác định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định mới
Điều 39 Luật Việc làm 2025 quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi người lao động thất nghiệp. Cách tính này tiếp tục được đánh giá là tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa bảo đảm hỗ trợ thu nhập, vừa tránh tạo ra sự phụ thuộc kéo dài vào trợ cấp.

Luật quy định mức trần trợ cấp thất nghiệp tối đa bằng 5 lần lương tối thiểu vùng hoặc lương cơ sở, nhằm cân đối quyền lợi người lao động và an toàn tài chính của Quỹ trong bối cảnh tiền lương tăng nhanh. Ảnh: Internet
Tuy nhiên, luật đồng thời đặt ra mức trần hưởng để bảo đảm an toàn tài chính cho Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Cụ thể, đối với người lao động hưởng lương theo chế độ do doanh nghiệp quyết định, mức trợ cấp tối đa không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng. Với người lao động hưởng lương theo chế độ do Nhà nước quy định, mức trần là 5 lần mức lương cơ sở.
Trong bối cảnh tiền lương tại nhiều doanh nghiệp, đặc biệt ở khối sản xuất xuất khẩu và công nghệ, đã tăng nhanh trong những năm gần đây, quy định về mức trần này có ý nghĩa quan trọng trong việc cân đối giữa quyền lợi cá nhân và lợi ích chung của hệ thống an sinh.
Điều 39 Luật Việc làm 2025 quy định mức hưởng, thời gian hưởng, thời điểm hưởng và hồ sơ, trình tự, thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:
1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa 12 tháng.
3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày làm việc thứ 11 kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.
4. Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, bao gồm thời gian tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được cơ quan bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp và mối liên hệ với thời gian đóng bảo hiểm xã hội
Bên cạnh mức hưởng, Luật Việc làm 2025 tiếp tục duy trì cơ chế xác định thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp dựa trên tổng thời gian đã đóng bảo hiểm. Theo đó, người lao động đóng từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng sẽ được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau mốc này, cứ thêm đủ 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp, nhưng tổng thời gian hưởng tối đa không quá 12 tháng.
Cơ chế này phản ánh rõ nguyên tắc đóng - hưởng, đồng thời khuyến khích người lao động chủ động quay trở lại thị trường lao động thay vì kéo dài thời gian hưởng trợ cấp.
Quyền lợi và trách nhiệm của người lao động khi hưởng trợ cấp thất nghiệp
Không chỉ là đối tượng thụ hưởng, Luật Việc làm 2025 đặt người lao động vào vị trí chủ động hơn trong việc bảo vệ và tối ưu quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp. Các quy định tại Điều 38 và Điều 39 cho thấy trợ cấp thất nghiệp không còn được nhìn nhận đơn thuần như một khoản hỗ trợ mang tính “mặc định” khi mất việc, mà gắn chặt với trách nhiệm theo dõi, tuân thủ và lựa chọn của chính người lao động.
Trước hết, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm trong 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Điều này khiến khoảng cách giữa thu nhập thực nhận và tiền lương đóng bảo hiểm trở thành vấn đề người lao động cần đặc biệt quan tâm. Thực tế tại nhiều doanh nghiệp cho thấy, không ít lao động chỉ nhận ra rủi ro này khi mất việc, khi mức trợ cấp thấp hơn đáng kể so với kỳ vọng dựa trên thu nhập hàng tháng.

Luật Việc làm 2025 tiếp tục nhấn mạnh trợ cấp thất nghiệp là cơ chế hỗ trợ tạm thời, song hành với nghĩa vụ tìm kiếm việc làm và tham gia các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm do cơ quan chức năng tổ chức. Ảnh: Internet
Bên cạnh yếu tố mức hưởng, các mốc thời gian mang tính thủ tục được luật quy định chặt chẽ hơn cũng tác động trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Việc nộp hồ sơ muộn, thiếu giấy tờ hoặc phát sinh quan hệ lao động mới trong thời gian chờ giải quyết có thể dẫn đến việc không đủ điều kiện hưởng trợ cấp, dù thời gian đóng bảo hiểm đã đáp ứng yêu cầu.
Doanh nghiệp cần lưu ý điều gì khi luật mới có hiệu lực?
Từ góc độ doanh nghiệp, các quy định tại Điều 38 và Điều 39 Luật Việc làm 2025 đặt ra yêu cầu ngày càng cao trong quản trị nhân sự và tuân thủ pháp luật lao động. Việc đóng bảo hiểm thất nghiệp đúng, đủ trên nền tiền lương thực tế không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro tranh chấp khi người lao động nghỉ việc và làm thủ tục hưởng trợ cấp.
Trong thực tế, không ít doanh nghiệp gặp khiếu nại do chênh lệch giữa mức lương ghi trong hợp đồng, mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm và thu nhập thực tế của người lao động. Khi người lao động thất nghiệp, mức trợ cấp thấp hơn kỳ vọng thường trở thành nguồn gốc của tranh chấp, dù lỗi không hoàn toàn xuất phát từ phía cơ quan bảo hiểm.

Việc đóng bảo hiểm thất nghiệp đúng, đủ trên nền tiền lương thực tế không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro tranh chấp khi người lao động nghỉ việc và làm thủ tục hưởng trợ cấp. Ảnh: Internet
Bên cạnh đó, việc chuẩn hóa quy trình chấm dứt hợp đồng lao động, cung cấp đầy đủ giấy tờ liên quan và thông tin minh bạch cho người lao động cũng là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì hình ảnh tuân thủ và trách nhiệm xã hội.
Những điểm mới nổi bật của Luật Việc làm 2025:
- Mở rộng diện bao phủ BHTN: Phạm vi tham gia bảo hiểm thất nghiệp được mở rộng theo hướng đồng bộ với Luật Bảo hiểm xã hội 2024, từng bước bao phủ cả một số nhóm lao động có quan hệ lao động linh hoạt và lao động phi chính thức có thu nhập ổn định.
- Linh hoạt mức đóng BHTN: Mức đóng tối đa tiếp tục được giữ ở mức 1% tiền lương tháng đối với người lao động và 1% quỹ tiền lương đối với người sử dụng lao động; Nhà nước hỗ trợ thêm 1%. Luật bổ sung cơ chế giảm mức đóng đối với doanh nghiệp sử dụng lao động là người khuyết tật theo quy định.
- Rút ngắn thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp: Người lao động đủ điều kiện được bắt đầu hưởng trợ cấp từ ngày làm việc thứ 11 kể từ khi nộp đầy đủ hồ sơ hợp lệ, sớm hơn 5 ngày so với quy định trước đây.
- Điều chỉnh điều kiện hưởng BHTN: Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính linh hoạt hơn đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng, căn cứ vào tổng số tháng thực tế đã tham gia bảo hiểm trong thời gian luật định.
- Tăng cường hỗ trợ đào tạo kỹ năng: Thủ tục hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề được rút gọn; giảm khâu xét duyệt, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ và mở rộng danh mục ngành nghề, cơ sở đào tạo được hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
- Bổ sung trách nhiệm tài chính: Người sử dụng lao động không đóng hoặc đóng không đầy đủ bảo hiểm thất nghiệp phải bồi thường toàn bộ các khoản trợ cấp và quyền lợi mà người lao động đáng lẽ được hưởng.
- Tăng cường chế tài xử phạt: Luật quy định rõ trách nhiệm và chế tài đối với người lao động không thực hiện nghĩa vụ thông báo tình trạng tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp.











