Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng 'tít te'

Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Túi bom vùng tự do

Theo cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Hành Thịnh, đầu năm 1970, toàn xã chỉ có hơn 20 đảng viên. Chi bộ xã phát động các gia đình bám trụ nhận nuôi thương binh. Mối quan hệ quân dân tại địa phương này vì vậy rất gắn bó. Chàng lính trẻ miền Bắc Nguyễn Duy Kháng lúc đó cũng khá ấn tượng với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương 20 tuổi người địa phương. Khó có thể tưởng tượng được, một nơi là túi bom, nhưng cô giáo vẫn duy trì đều đặn lớp học với 20 em học sinh. Dưới tán cây dù lai rậm rạp, học sinh nghe lời cô, chỉ chạy chơi dưới tán cây, không chạy ra ngoài, đề phòng lọt vào ánh mắt xăm soi của máy bay trinh sát địch.

Thỉnh thoảng cô giáo lại chạy quanh làng với những ngôi nhà thưa thớt và báo tin nghỉ học. Nếu thấy chiếc máy bay trinh sát bay chậm, lượn lờ như bóng quạ trên cao, cô giáo phải tự nghiên cứu, sau đó phán đoán và ra quyết định cho học sinh nghỉ học hay đến lớp. Có những gia đình không chịu nổi với cảnh suốt ngày chạy giặc nên đã xuống khu vực chợ Quán Lát và dựng nhà ở tạm, kiếm sống bằng đủ thứ nghề vì trong tay không còn ruộng đất.

Trong cuốn nhật ký của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm từng viết về khoảnh khắc nằm dưới tầm súng của trực thăng HU-1A của Mỹ và mô tả khá chi tiết. Cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương nhớ lại, cũng vào thời điểm đầu năm 1970, lớp học đang diễn ra thì cô trò khựng người lại. Có tiếng cạch… cạch vang lên, lúc xa, lúc gần. Thôi rồi, là chiếc tàu rọ HU-1A. Loại trực thăng này thường xuất hiện sau khi được chiếc trinh sát L-19 chỉ điểm mục tiêu.

Cô Hương mãi không quên lần ấy lớp học sau 10 phút trực thăng địch quần đảo, khi nghe tiếng động cơ xa dần cứ tưởng máy bay địch đã rời xa nên cô trò vội túa ra, chạy về thôn Mỹ Hưng. Nhưng hóa ra mọi người đã bị lừa. Chiếc HU-1A quay ngoắt trở lại. Nó đuổi theo sát cô bé học sinh tên là Một. Rồi một tràng súng vang lên, cái bóng nhỏ xíu ngã lăn ra đất…

Dưới chân núi Dàng

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng, sinh năm 1949, chồng của cô Hương nhớ lại, để có thể trụ được trong vùng tự do, đêm đêm âm thầm xuống vùng giải phóng cõng gạo ngược lên, Tiểu đoàn 165 Sư đoàn 320 đã rèn tân binh không khác gì võ sĩ rèn võ công. Ngay tại vùng Sơn Tây, Hà Nội, mỗi người lính phải vác ba lô nặng 30 kg và bắt đầu tập hành quân, leo núi, đi liên tục, có lúc đi cả ngày lẫn đêm. Mãi tới tháng thứ 3 thì tân binh mới nhận vũ khí để hành quân vào miền Nam. Mỗi người lính được cấp 3 băng đạn AK đeo trên ngực và 1 băng đạn có sẵn trong súng.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo Hương .Ảnh: Lê Văn Chương

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo Hương .Ảnh: Lê Văn Chương

Giữa năm 1966, đơn vị đặt chân tới làng Hương Nhượng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Ngay buổi chiều đầu tiên, ông Kháng và các nữ du kích đi hái rau và khi vừa xuất hiện ở tràng rừng thưa thì máy bay HU-1A đã ập tới. Đạn trên máy bay bắn xuống như mưa. Nhưng nhờ nấp dưới thân cây đổ nghiêng nên ông Kháng thoát chết. Khi âm thanh ù ù xa dần, cả đơn vị ùa ra tìm người vì tưởng nhóm chiến sĩ đã bị máy bay địch bắt sống.

Đầu năm 1970, ông Kháng và đơn vị chính thức đóng quân tại xã Hành Thịnh (Quảng Ngãi) để bảo vệ vùng tự do. Nơi này đầy hiểm yếu, vì núi non trùng điệp, bẫy chông, bẫy mìn khắp nơi. Khi đặt chân tới thì bộ đội phải hiệp đồng ngay với du kích để biết điểm nào có mìn đang cài trên lối đi.

Lính của đơn vị ông vừa tới nơi đã râm ran hỏi thăm về hầm bí mật. Vì theo quy định, cứ đóng quân chỗ nào thì hầm phải lập tức đào xong trong ngày hôm đó. Vậy rồi gia đình cô Hương chỉ ra bụi tre rậm rạp ngay sau nhà. Ông Kháng và anh em lính bắt đầu khoét hầm bí mật với chiếc xẻng cán ngắn.

Từ nhà tới các vị trí có hầm đều được quân giải phóng chú ý. Ví dụ như mặt đất là đất bùn, hay cát, có các loại cây gì mọc. Vì nếu đất ẩm và mịn, mặt đất không có cây cỏ thì rất dễ để lại dấu vết khi mọi người chui xuống hầm. Mỗi khi có thông tin phải xuống hầm ẩn nấp, người đi sau cùng luôn bước lùi, hai tay khỏa mặt đất để xóa dấu chân của những người đi trước.

Người lính Nguyễn Duy Kháng lúc đó đã biết rõ gia đình cô giáo Hương có người chị lớn đã hy sinh trên đường đi công tác, cha đi tập kết ra miền Bắc. Thỉnh thoảng toàn xã báo động địch sắp càn vô làng, kêu gọi dân vùng giải phóng phải ra vùng có chính quyền, gia đình cô Hương lại phải gồng gánh, đi qua các làng ở xã Hành Tín. Đó là lúc cậu lính trẻ và đồng đội lại giúp gia đình cô Hương thu xếp đòn gánh, giúp mang theo gạo để chạy lánh nạn.

Anh sẽ ở lại!

Ngày 24/3/1975, đơn vị của ông Kháng được lệnh tiến vô chốt chặn ngay tại đèo Bình Đê, là điểm giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Rồi đất nước thống nhất, một số anh em lính miền Bắc bắt đầu nhắc tới việc xin giải ngũ, về quê làm ruộng. Nhưng ông Kháng thì vẫn tiếp tục đời quân ngũ, được điều động về đóng quân tại Gò Hội, huyện Đức Phổ. Đó cũng là lúc chàng lính miền Bắc nhận được thư của cô giáo Hương, người từng theo dõi âm thanh tít… tít… te… te từ căn hầm thông tin. Sau đó cô Hương chủ động vô thăm đơn vị của ông Kháng và hai bên kể với nhau nhiều câu chuyện về thời điểm cả làng chạy giặc, cậu lính thông tin đã giúp gia đình cô Hương, và người mẹ già sau này luôn nhắc tới bộ đội, xem họ như con của mình.

Ông Kháng từng lưu giữ rất nhiều kỷ vật của đồng đội thời chiến tranh. Ông dõi theo tiến độ thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ và tâm sự, mong sao những người lính nằm lại vùng đất này và chưa rõ danh tính sẽ sớm được trả lại tên, tuổi, quê quán.

Sau năm 1975, bà Bùi Thị Chóe từ huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình liên tục viết thư cho con trai, nhắn về quê với mẹ, sau này lấy vợ, sinh con. Lúc đó cậu lính đã thông báo với mẹ, sẽ có con dâu là người Quảng Ngãi. Mối tình vợ chồng của người lính và cô giáo vùng tự do tiếp tục trải qua sóng gió, vì anh được điều động vào thành phố Quy Nhơn, tỉnh Nghĩa Bình (Quảng Ngãi và Bình Định sáp nhập). Thời đó, việc tìm được chỗ ngồi trên chuyến xe khách để đến thăm nhau không phải là điều đơn giản.

Riêng tại tỉnh Quảng Ngãi, có hàng trăm đồng đội của ông Kháng, ông Yên đã ngã xuống Ảnh: Lê Văn Chương

Riêng tại tỉnh Quảng Ngãi, có hàng trăm đồng đội của ông Kháng, ông Yên đã ngã xuống Ảnh: Lê Văn Chương

Đám cưới của cặp đôi cô giáo vùng tự do và anh bộ đội Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 22 từng đóng quân trong làng chính thức được tổ chức vào tháng 5/1977. Sau này ông Kháng xin được điều động về gần nhà, công tác tại Ban chỉ huy Quân sự huyện Nghĩa Hành, giữ cương vị Phó Chỉ huy phụ trách tuyển quân. Đến năm 1990, ông về hưu và bắt đầu cuộc sống mới với ruộng đồng dưới chân núi Dàng. Ngôi nhà của ông và người đồng đội, đồng hương Thái Bình là Lại Vũ Yên chỉ cách nhau vài ngôi nhà, cách đó gần 1 km là gia đình của cựu chiến binh Lê Thanh Tân.

Gần 50 năm với tổ ấm dưới chân núi Dàng, ông bà thỉnh thoảng vẫn ôn lại lời hứa “thôi, anh ở lại!”. Lời hứa của mối tình thời chiến trong vắt như giọt sương mai.

Lê Văn Chương

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/nhung-nguoi-linh-o-lai-nui-dang-bai-cuoi-trai-tim-co-giao-tre-danh-tron-tieng-tit-te-post1878698.tpo