Những trường hợp công chức bị tạm đình chỉ công tác theo quy định mới
Nghị định 170/2025/NĐ-CP quy định rõ thời hạn, quy trình thực hiện và các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công chức trong thời gian bị tạm đình chỉ.
Tạm đình chỉ công tác là biện pháp được áp dụng nhằm phục vụ công tác kiểm tra, xác minh, xử lý vi phạm đối với công chức trong một số trường hợp nhất định. Nghị định 170/2025/NĐ-CP đã quy định cụ thể các căn cứ, thời hạn cũng như quy trình xem xét việc tạm đình chỉ công tác.

Theo quy định mới, việc tạm đình chỉ công tác được áp dụng trong một số trường hợp nhằm phục vụ công tác kiểm tra, xử lý vi phạm.
Những trường hợp công chức có thể bị tạm đình chỉ công tác
Theo quy định, công chức có thể bị tạm đình chỉ công tác nếu có hành vi vi phạm hoặc dấu hiệu vi phạm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức hoặc gây bức xúc trong dư luận.
Cụ thể, việc tạm đình chỉ được xem xét áp dụng trong các trường hợp như: vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của tổ chức, cá nhân; có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình thực thi công vụ.
Ngoài ra, công chức cũng có thể bị tạm đình chỉ nếu cố tình trì hoãn, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ được giao; hoặc đang trong quá trình xem xét, xử lý kỷ luật nhưng không chấp hành yêu cầu của cấp có thẩm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý vi phạm.
Trường hợp công chức đã bị xử lý kỷ luật về Đảng và đang trong thời gian chờ xem xét, xử lý chức vụ chính quyền, nếu tiếp tục làm việc có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cũng thuộc diện có thể bị tạm đình chỉ.
Bên cạnh đó, việc tạm đình chỉ còn được thực hiện khi có văn bản đề nghị của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan khác có thẩm quyền, cũng như các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Nghị định 170/2025/NĐ-CP cũng quy định rõ thời hạn tạm đình chỉ công tác đối với công chức không quá 15 ngày làm việc. Trong trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp, cần thêm thời gian để xác minh, làm rõ, thời gian tạm đình chỉ có thể được kéo dài, nhưng cũng không quá 15 ngày làm việc.
Như vậy, trong điều kiện bình thường, công chức chỉ bị tạm đình chỉ tối đa 15 ngày làm việc. Nếu được gia hạn do tính chất phức tạp của vụ việc, tổng thời gian tạm đình chỉ cũng không vượt quá 30 ngày làm việc.
Riêng đối với trường hợp tạm đình chỉ theo đề nghị của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc cơ quan tiến hành tố tụng, thời hạn tạm đình chỉ sẽ thực hiện theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền. Quyết định tạm đình chỉ công tác sẽ đương nhiên hết hiệu lực thi hành khi hết thời hạn ghi trong quyết định.
Nghị định 170/2025/NĐ-CP quy định rõ quy trình xem xét tạm đình chỉ công tác nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, tránh lạm dụng.
Theo đó, chậm nhất là 02 ngày làm việc kể từ khi xác định có căn cứ tạm đình chỉ, cơ quan hoặc bộ phận tham mưu về tổ chức, cán bộ phải báo cáo, đề xuất người đứng đầu xem xét, ra quyết định tạm đình chỉ công tác.
Chậm nhất 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề xuất, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền phải ban hành quyết định tạm đình chỉ công tác đối với công chức.
Trường hợp việc tạm đình chỉ không đúng quy định, hoặc khi có kết luận xác định công chức không vi phạm, chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày có đủ cơ sở, người đứng đầu phải ban hành quyết định hủy bỏ việc tạm đình chỉ, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền quản lý công chức.
Các quyết định tạm đình chỉ công tác và quyết định hủy bỏ (nếu có) phải được công bố công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức và gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Thời gian bị tạm đình chỉ có được tính trợ cấp thôi việc?
Một nội dung được nhiều công chức quan tâm là việc tính trợ cấp thôi việc đối với thời gian tạm đình chỉ được cơ quan cử đi đào tạo thì có được tính trợ cấp thôi việc không?
Theo quy định tại Điều 59 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, thời gian được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp phục viên. Trong đó bao gồm thời gian làm việc tại các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; thời gian công tác trong quân đội, công an; thời gian làm việc tại các hội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
Bên cạnh đó, thời gian công chức nghỉ được hưởng lương theo pháp luật về lao động; nghỉ chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, dưỡng sức phục hồi sức khỏe theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự mà đã được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kết luận là oan, sai và trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác theo quy định của cấp có thẩm quyền, công chức vẫn được tính trợ cấp thôi việc nếu khoảng thời gian đó chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp phục viên.











