Nữ giao liên xuất sắc của Cụm tình báo H63

Trong bức tranh khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu mạng lưới tình báo chiến lược miền Nam được ví như một cỗ máy tinh vi len lỏi vào tận đầu não đối phương, thì đường dây giao liên chính là mạch máu quyết định sự sống còn của toàn bộ hệ thống.

Trong lòng Sài Gòn những năm của thập niên 1960, Cụm tình báo H63 hoạt động với sứ mệnh đặc biệt: Thu thập, phân tích và chuyển tải những tin tức mật chiến lược về căn cứ phục vụ Trung ương Cục và Bộ Chính trị. Ở vị trí trung tâm của mạng lưới tình báo chiến lược ấy chính là Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) - Điệp viên X6. Ông hoạt động dưới vỏ bọc một ký giả kỳ cựu cho các hãng thông tấn nổi tiếng của phương Tây như Reuters, Time hay The New York Herald Tribune; có mối quan hệ rộng khắp trong giới tướng lĩnh Sài Gòn và cố vấn quân sự Mỹ.

Có thể nói một điệp viên dù tài ba đến đâu cũng sẽ bị vô hiệu hóa hoàn toàn nếu tin tức thu thập được không thể chuyển về căn cứ, hoặc đường dây liên lạc bị đối phương bẻ gãy. Chính vì tính chất khốc liệt của cuộc chiến ở vào thời điểm đó, việc thông tin từ nội đô ra căn cứ đặt ra những yêu cầu hết sức ngặt nghèo. Việc kết nối với ông Hai Trung đòi hỏi những tiêu chuẩn nghiệp vụ chặt chẽ đến mức khắc nghiệt. Trước năm 1961, Cụm trưởng Cụm tình báo H63 Tư Cang (Nguyễn Văn Tàu) đã nhiều lần cử người tiếp cận, nhưng ông Hai Trung đều thẳng thắn lắc đầu từ chối. Người quá trẻ thì thiếu sự điềm đạm, dễ bốc đồng; người mang dáng dấp thôn quê quá rõ nét thì lạc lõng giữa thị thành hoa lệ, rất dễ lọt vào tầm ngắm của mạng lưới mật vụ, cảnh sát chìm và chỉ điểm CIA giăng mọi ngõ ngách.

Suốt từ năm 1961 đến năm 1975, đồng chí Nguyễn Thị Ba là người liên lạc duy nhất của ông Phạm Xuân Ẩn.

Suốt từ năm 1961 đến năm 1975, đồng chí Nguyễn Thị Ba là người liên lạc duy nhất của ông Phạm Xuân Ẩn.

Tháng 12-1961, tổ chức quyết định điều động bà Nguyễn Thị Ba, người phụ nữ sinh năm 1917 tại vùng quê Hậu Thạnh, Đức Hòa, Long An, tới làm công việc hết sức khó khăn này. Bắt đầu tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) từ năm 1936 khi mới 19 tuổi, bà Ba đã tích lũy vốn kinh nghiệm dày dặn qua phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa, từng làm giao liên bí mật cho Xứ ủy Nam Bộ và các cơ quan lãnh đạo đầu não tại khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn. Khi nhận nhiệm vụ bà Ba đã ngoài 40 tuổi.

Buổi gặp gỡ đầu tiên diễn ra trong sự thận trọng tuyệt đối. Nhìn người phụ nữ đứng tuổi, nét mặt phúc hậu, ánh mắt bình thản và dáng vẻ ung dung tự tại, ông Hai Trung ưng ngay. Ông bảo: “Chị là người có kinh nghiệm, lại lớn tuổi nên tôi mừng lắm”. Dẫu vậy, với tính cẩn trọng của một cán bộ Tình báo ông không bỏ qua từng chi tiết nhỏ nhất. Nhìn thấy bà Ba bới tóc lớn theo kiểu phụ nữ nông thôn Nam Bộ, ông nhắc nhở bà nên bới tóc nhỏ gọn lại cho thuận nếp sinh hoạt của thị dân lao động Sài Gòn.

Thẻ căn cước mang tên Nguyễn Thị Út của đồng chí Nguyễn Thị Ba, Cụm tình báo H63 sử dụng trong thời gian làm giao liên cho đồng chí Phạm Xuân Ẩn, 1965-1975.

Thẻ căn cước mang tên Nguyễn Thị Út của đồng chí Nguyễn Thị Ba, Cụm tình báo H63 sử dụng trong thời gian làm giao liên cho đồng chí Phạm Xuân Ẩn, 1965-1975.

Cũng từ buổi gặp gỡ định mệnh ấy, một phương án tối ưu được thiết lập phòng khi chạm mặt bất trắc. Theo đó, nếu có kẻ gặng hỏi về mối quan hệ giữa một ký giả danh tiếng, sang trọng, đi xe hơi đời mới và một phụ nữ nghèo lam lũ, câu trả lời thống nhất sẽ là: Ngày trước bà Ba từng gặp tai nạn trên đường, tình cờ được ông Hai Trung giúp đỡ đưa vào bệnh viện cứu chữa. Mang ơn sâu nặng nên thi thoảng bà ghé thăm hỏi, chuyện trò. Lời ngụy trang đời thường, bình dị ấy đã hóa giải mọi sự chú ý tò mò của mạng lưới theo dõi xung quanh.

Nguyên tắc vận hành của Cụm tình báo H63 được chia thành 3 tuyến độc lập nghiêm ngặt: Tuyến 1 do bà Ba đảm nhiệm, hoạt động đơn tuyến trong nội đô Sài Gòn, trực tiếp nhận tài liệu từ ông Hai Trung mang ra vùng ven. Tuyến 2 do cơ sở hợp pháp tại các ấp chiến lược Phú Hòa Đông, Nhuận Đức, Bến Cát tiếp nhận và đưa về vùng bán căn cứ. Tuyến 3 là tuyến giao thông vũ trang ở Củ Chi, đón tài liệu từ tuyến 2 chuyển về căn cứ Miền và từ đây bằng các con đường khác nhau sẽ được chuyển ngay ra Hà Nội.

Đồng chí Nguyễn Thị Ba, giao liên của đồng chí Phạm Xuân Ẩn từ năm 1961 đến năm 1975.

Đồng chí Nguyễn Thị Ba, giao liên của đồng chí Phạm Xuân Ẩn từ năm 1961 đến năm 1975.

Tại Tuyến 1, áp lực sinh tử đè nặng lên vai người nữ giao liên. Thông thường, bà Ba giữ nhịp liên lạc đều đặn mỗi tháng 3 lần. Vào các thời điểm then chốt, khi có những diễn biến đặc biệt trên chiến trường, tần suất có thể tăng lên 5 đến 6 lần, thậm chí có những chỉ thị, tài liệu hỏa tốc phải liên lạc khẩn cấp bất kể ngày đêm. Để giữ an toàn, bà tuyệt đối không bao giờ bước chân vào nhà ông Hai Trung. Ngược lại, X6 cũng không được biết nơi trọ của bà. Hộp thư chết ở gốc cây từng được cả hai dùng thử trong vài lần đầu, nhưng nhận thấy nguy cơ lộ dấu vết quá lớn, cả hai thống nhất chỉ gặp nhau trực tiếp giữa chốn đông người. Mỗi lần hẹn gặp luôn có một điểm gặp chính, một điểm phụ dự bị và một khung giờ dự phòng cho ngày hôm sau.

Địa điểm hẹn thường là nơi ồn ào, tấp nập như cổng chợ hoặc bến xe. Khi bắt được tín hiệu của nhau, ông Hai Trung dắt bà vào tiệm nước ven đường hoặc cho bà lên xe hơi chạy lòng vòng vài tuyến phố. Những cuộn phim tài liệu thu nhỏ bằng ngón tay cái (khi thì năm bảy cuộn, có lúc lên tới cả chục cuộn) được ngụy trang vô cùng kín đáo. Ông Hai Trung luôn là người tự tay nhét những cuộn phim chụp tài liệu thu được vào bên trong những chiếc nem chua gói lá chuối, làm thành từng xâu. Khi xuống xe, bà xách theo giỏ đi chợ, xếp nem vào đó, chiếc mềm nhẹ lên trên, chiếc “nem-phim” nặng và cứng hơn xuống đáy giỏ. Bà cũng mua thêm nải chuối, thẻ hương giả làm người đi đám giỗ. Tài liệu dạng văn bản thì được viết bằng loại mực mật không màu lên những mảnh giấy xi măng. Cứ thế, bà Ba thản nhiên dùng chính những tờ giấy xi măng ấy gói mớ đồ chơi trẻ con, bánh trái rồi xách ra vùng ven, hoàn hảo hoàn thành nhiệm vụ.

Một số hình ảnh của đồng chí Nguyễn Thị Ba (bên trái trong ảnh 3 người bên trái, bên trái trong ảnh bên phải ở phía trên và bên phải trong ảnh bên phải ở phía dưới).

Một số hình ảnh của đồng chí Nguyễn Thị Ba (bên trái trong ảnh 3 người bên trái, bên trái trong ảnh bên phải ở phía trên và bên phải trong ảnh bên phải ở phía dưới).

Sau này, bà Ba đúc kết kinh nghiệm như sau: Để có thể sinh tồn giữa sào huyệt kẻ thù thì phải có trực giác nhạy bén và tâm lý vững. Đi lại phải đàng hoàng, tự nhiên, không được lấm la lấm lét. Lên xe đò thì ngồi ngay gần cửa xe chứ đừng chui vào góc khuất. Khi lính ngụy chặn xe xét hỏi, mình chủ động chìa giỏ ra bảo: "Đây mấy cậu cứ coi đi để tôi đi”. Nó thấy mình tử tế, xởi lởi thì không để ý, nếu mình hoảng hốt, mặt mày biến sắc là rơi vào bẫy ngay. Thỉnh thoảng gặp người quen cũng mừng lắm, nhưng chỉ mừng trong bụng thôi chứ không được chạy đến mừng ra mặt. Không sợ lính xét, mà chỉ sợ những đứa chỉ điểm.

Nhờ sự khôn khéo ấy, suốt 15 năm, từ 1961 đến ngày giải phóng, trải qua hàng nghìn phiên liên lạc, đối mặt với vô số chiến dịch càn quét và thiết quân luật ngặt nghèo, đặc biệt là sau Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 khi địch phong tỏa gắt gao từng cửa ngõ, bà Ba chưa từng một lần để thất lạc tài liệu, bị bắt hay làm lộ đường dây. Cự ly đơn tuyến được bảo toàn nguyên vẹn đến ngày non sông thu về một mối.

Để đứng vững hợp pháp giữa lòng Sài Gòn, người chiến sĩ giao liên phải tạo cho mình một bình phong hoàn hảo nhất: Trở thành một người dân lao động nghèo đến mức không ai thèm để ý.

Bà Ba thuê một chái nhà nhỏ của người dân với giá vài chục đến một trăm đồng mỗi tháng. Hằng ngày, bà đi bán dạo đồ chơi trẻ em mạ vàng giả khắp các ngõ hẻm. Có những ngày trở trời, sốt rét hoành hành rã rời thân xác, bà vẫn gượng dậy quẩy hàng đi bán. Bà tự nhủ mình không được phép nghỉ, bởi một phụ nữ lớn tuổi neo đơn buôn bán cầm chừng mà vẫn có tiền trang trải sinh hoạt tất sẽ chuốc lấy sự nghi ngờ của bọn chỉ điểm và cảnh sát khu vực.

Bà Nguyễn Thị Ba nhận huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Bà Nguyễn Thị Ba nhận huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Thế nhưng đằng sau dáng vẻ bình lặng, nhẫn nại ấy cũng là sự hy sinh tột cùng về tình cảm cá nhân. Năm 1953, chồng bà, nguyên Phó bí thư Tỉnh ủy Long An thời chống Pháp, được cử ra chiến khu Việt Bắc học tập chính trị. Sau Hiệp định Geneve 1954, ông ở lại miền Bắc công tác tại Bộ Lương thực - Thực phẩm. Suốt hơn 20 năm ròng rã, đôi vợ chồng sống trong cảnh chia cắt đôi bờ giới tuyến. Ngoài miền Bắc, người chồng vì nhớ thương vợ con khôn nguôi nên vẫn đều đặn viết từng lá thư, song vì bà Ba đang thực hiện nhiệm vụ tình báo đặc biệt tối mật, những bức thư ấy không thể gửi vào Nam, ông cẩn thận cất giữ từng phong bì như một báu vật đời mình.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Ba.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Ba.

Với hai người con nhỏ, một trai, một gái, bà đành cắn răng gửi họ hàng dưới quê nuôi nấng để có thể tập trung cho hoạt động cách mạng. Những lần hiếm hoi tranh thủ về quê chớp nhoáng thăm con giữa hai đợt địch đi càn, vừa ôm ghì lấy con chưa ráo nước mắt thì đã nghe tiếng súng nổ gần, bà lại phải gạt nước mắt bước vội đi. Tiếng con thơ khóc gọi “Má ơi!” xé lòng sau lưng khiến bà vừa đi vừa nghẹn ngào rơi nước mắt. Bà từng tâm sự, những ngày Tết ở Sài Gòn đông vui, bước chân thui thủi giữa phố phường, nghe tiếng con trẻ nhà ai cất tiếng gọi mẹ mà lòng bà đau như cắt.

Dẫu thiếu thốn trăm bề, bà Ba luôn giữ trọn khí tiết trong sạch và lòng tự trọng của người chiến sĩ cách mạng. Tổ chức có chế độ chu cấp nhưng chỉ khi thực sự cùng quẫn, áo quần rách rưới bà mới nhận hỗ trợ may bộ đồ mới. Thấy bà ốm yếu, đi lại cực nhọc, ông Hai Trung thỉnh thoảng giúi tiền vào tay dặn bà mua thuốc bồi dưỡng, bà đều nhất mực từ chối: “Cậu cất đi, tôi tự lo được”. Hai con người ở hai vị thế xã hội hoàn toàn đối nghịch, một ký giả thượng lưu và một phụ nữ bán dạo nghèo khó, lại gắn kết với nhau bằng tình đồng chí, tình ruột thịt thiêng liêng. Ông Hai Trung kính cẩn xem bà như người chị gái, coi bà là điểm tựa tinh thần vững chắc: “Tôi thấy chị xa chồng, xa con, công việc rất cực khổ. Còn tôi có gia đình, sướng hơn chị, còn được chị động viên. Nhờ chị động viên mà tôi công tác tốt”.

Một số vật dụng Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Ba từng sử dụng khi còn công tác hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tình báo quốc phòng Việt Nam.

Một số vật dụng Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Ba từng sử dụng khi còn công tác hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tình báo quốc phòng Việt Nam.

Cả cuộc đời bà Nguyễn Thị Ba là một nốt trầm nhưng kiên cường tuyệt đối. Khi hai người con khôn lớn, bà lại tiếp tục động viên các con vào căn cứ kháng chiến: Con trai bà vào căn cứ năm 14 tuổi, sau này trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Long An. Con gái bà vào căn cứ năm 16 tuổi và sau này công tác tại xưởng Dược, Viện Quân y 121, Quân khu 9.

Ngày 15-11-1976, Thượng úy Nguyễn Thị Ba (sau này là Thiếu tá) được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. Bà tiếp tục cống hiến, giữ trọn vẹn sự mộc mạc cho đến khi thanh thản về cõi vĩnh hằng ngày 16-8-2016 tại quê nhà Long An (cũ), hưởng thọ 99 tuổi, với 80 năm tuổi Đảng.

Hình ảnh người mẹ Long An hiền hậu mang giỏ “nem-phim” đi qua sào huyệt kẻ thù mãi mãi là biểu tượng bất tử của nghệ thuật giao liên tình báo Việt Nam - một kỳ tích bình dị mà phi thường trong lịch sử dựng nước và giữ nước.

Nội dung: HỮU DƯƠNG (Theo tài liệu do Tổng cục II cung cấp)
Ảnh: Tư liệu, Tổng cục II cung cấp, phim tài liệu của Hãng phim truyền hình TPHCM
Kỹ thuật, đồ họa:  TÔ NGỌC

Nguồn QĐND: https://media.qdnd.vn/long-form/nu-giao-lien-xuat-sac-cua-cum-tinh-bao-h63-64728