OCOP Tây Bắc: Khi đồng bào làm chủ cuộc chuyển đổi
Từ Hội chợ Du lịch Tây Bắc và Không gian quảng bá, kết nối sản phẩm OCOP tại Nghĩa Lộ, Lào Cai, câu chuyện phát triển kinh tế vùng cao gợi mở yêu cầu lớn hơn: đưa đặc sản địa phương vào thị trường bền vững, đồng thời thay đổi nếp nghĩ, cách làm thông qua những HTX có đông thành viên là đồng bào dân tộc thiểu số.
Diễn ra từ ngày 16 đến 21/10/2026 tại phường Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai, Hội chợ Du lịch Tây Bắc và Không gian quảng bá, kết nối sản phẩm OCOP nằm trong chuỗi hoạt động của Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Sự kiện hướng tới quảng bá tiềm năng du lịch, giới thiệu sản phẩm đặc trưng và thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các địa phương, doanh nghiệp trong khu vực.
Bài toán đầu ra cho sản phẩm bản địa
Không gian hội chợ có 20 gian hàng giới thiệu sản phẩm OCOP gắn với du lịch cấp vùng, cùng 78 gian hàng thuộc không gian “Sắc màu văn hóa Tây Bắc”.

Không gian Hội chợ được bố trí thành các khu vực chính, gồm xúc tiến, quảng bá du lịch liên kết vùng; giới thiệu và kết nối tiêu thụ sản phẩm OCOP.
Việc đặt sản phẩm OCOP bên cạnh các hoạt động quảng bá điểm đến, trình diễn nghề thủ công, giới thiệu trang phục truyền thống và ẩm thực cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý: sản vật địa phương không chỉ là hàng hóa để mua bán, mà còn có thể trở thành một phần của trải nghiệm du lịch. Một sản phẩm nông nghiệp, món ăn truyền thống hay mặt hàng thủ công sẽ có thêm cơ hội tiếp cận khách hàng khi gắn với câu chuyện về vùng đất, con người và bản sắc văn hóa đã tạo nên nó.
Tuy nhiên, đưa sản phẩm lên kệ trưng bày mới là bước khởi đầu. Để hàng hóa có chỗ đứng lâu dài, chủ thể OCOP cần giải được những bài toán khó hơn: chất lượng ổn định, mẫu mã phù hợp, khả năng đáp ứng đơn hàng, xây dựng thương hiệu và tổ chức các kênh phân phối. Với những hộ sản xuất ở vùng sâu, vùng xa, khoảng cách đến thị trường không chỉ được tính bằng địa lý mà còn nằm ở kỹ năng kinh doanh, thông tin thị trường và khả năng tiếp cận công nghệ.
Đây cũng là lý do các HTX có vai trò quan trọng. Thay vì mỗi hộ tự sản xuất, tự tìm người mua và bán hàng theo từng thời điểm, HTX có thể tập hợp nguồn lực, thống nhất quy trình, phát triển thương hiệu chung và kết nối với doanh nghiệp, đơn vị phân phối. Khi được tổ chức hiệu quả, mô hình này giúp người dân từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang làm hàng hóa theo nhu cầu thị trường.
Trong bối cảnh đó, kết nối OCOP với du lịch không nên dừng ở hoạt động giới thiệu sản phẩm trong vài ngày hội chợ. Giá trị thực sự nằm ở khả năng biến sự quan tâm của du khách thành nhu cầu tiêu dùng thường xuyên, tạo thêm đơn hàng cho cơ sở sản xuất và mở rộng sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Thay đổi cách làm từ chính sản vật quê hương
Câu chuyện của chị Lý Thị Quyên, Giám đốc HTX Thiên An ở Thái Nguyên là một ví dụ về cách người dân có thể nâng giá trị sản vật bản địa bằng tư duy tổ chức sản xuất mới.
Là người Dao ở bản Nà Ít, xã Phủ Thông, chị Quyên nhận thấy nhiều loại nông sản trong vùng chủ yếu được trồng để phục vụ gia đình hoặc chỉ mang ra chợ bán khi có nhu cầu. Từ thực tế đó, chị cùng một số phụ nữ địa phương thử chế biến chuối sấy nhằm kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị sản phẩm.
Năm 2017, HTX Thiên An được thành lập; đến năm 2018, sản phẩm chuối sấy của HTX được chứng nhận OCOP 3 sao. Sau đó, HTX tiếp tục phát triển các sản phẩm từ dược liệu và nghề thủ công truyền thống của người Dao.
Đáng chú ý, hành trình này không chỉ xoay quanh việc tạo ra một sản phẩm mới, mà sau đó là quá trình thay đổi cách nhìn về nông sản, lao động và khả năng làm kinh tế của phụ nữ dân tộc thiểu số.
Chị Quyên từng chia sẻ về những định kiến mà mình gặp phải khi bắt đầu khởi nghiệp: “Quan niệm của những người dân sống ở đây thì họ mặc định rằng đối với dân tộc thiểu số thì phụ nữ sinh ra chủ yếu làm nương làm rẫy, không thể làm kinh tế được”.
Những khó khăn ban đầu còn đến từ việc thiếu kinh nghiệm chế biến, sản phẩm chưa đạt yêu cầu và nguồn vốn hạn chế. Nhưng thay vì dừng lại ở cách làm quen thuộc, HTX từng bước tìm hiểu kỹ thuật, đầu tư thiết bị, tham gia tập huấn và tìm kiếm kênh tiêu thụ mới và đã có 9 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP, trong đó có chuối sấy, các sản phẩm thảo dược và gối dược liệu.
Câu chuyện của HTX Thiên An cho thấy OCOP có thể trở thành động lực thúc đẩy thay đổi tập quán sản xuất khi người dân được tham gia vào toàn bộ quá trình tạo ra giá trị. Nông sản không còn chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu; tri thức bản địa về cây thuốc, kỹ năng thủ công và những nguyên liệu sẵn có trong cộng đồng được đưa vào sản phẩm có định dạng, chất lượng và câu chuyện thương hiệu rõ ràng hơn.
Quan trọng hơn, HTX tạo ra không gian để người dân học cách làm việc theo quy trình, phối hợp với nhau và hướng tới mục tiêu chung. Người sản xuất phải quan tâm đến chất lượng đồng đều, vệ sinh, bảo quản, bao bì và thời hạn giao hàng, thay vì chỉ chú trọng sản lượng thu hoạch. Những thay đổi tưởng như nhỏ này lại là nền tảng để sản phẩm địa phương có thể tham gia thị trường rộng hơn.
Dẫu vậy, không phải cứ thành lập HTX hay có sản phẩm đạt sao OCOP là có thể bảo đảm đầu ra. Chứng nhận OCOP có thể hỗ trợ nhận diện chất lượng và tăng độ tin cậy, nhưng để duy trì thị trường, HTX vẫn cần năng lực quản trị, vốn lưu động, nguồn nguyên liệu ổn định và phương án kinh doanh phù hợp. Nếu sản xuất chỉ tăng lên vào dịp hội chợ, lễ hội hoặc khi có chương trình hỗ trợ, hiệu quả kinh tế sẽ khó duy trì lâu dài.
Xây dựng sinh kế bền vững
Quy mô phát triển của Chương trình OCOP cho thấy vai trò ngày càng rõ của kinh tế tập thể và cộng đồng địa phương.
Theo số liệu công bố tháng 9/2026, cả nước có 21.028 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, với 10.657 chủ thể tham gia; trong đó, HTX chiếm 32,3% tổng số chủ thể. Riêng tại Lào Cai, số liệu công bố tháng 3/2026 ghi nhận 102 trong tổng số 287 chủ thể OCOP là người dân tộc thiểu số.
Những con số này cho thấy đồng bào vùng cao đang tham gia trực tiếp hơn vào tổ chức sản xuất, xây dựng sản phẩm và phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, để sự tham gia ấy chuyển thành sinh kế bền vững, các HTX vẫn cần được hỗ trợ về quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu và kết nối đầu ra.
Một trong những hướng đi đáng chú ý của các mô hình OCOP vùng dân tộc thiểu số là kết hợp tri thức bản địa với kỹ thuật chế biến và phương thức kinh doanh hiện đại. Với sản phẩm nông nghiệp, điều này có thể là đầu tư công nghệ sấy, đóng gói và bảo quản. Với sản phẩm thủ công, đó có thể là cải tiến thiết kế, mở rộng công năng sử dụng nhưng vẫn giữ được dấu ấn văn hóa. Với dược liệu, yêu cầu còn bao gồm kiểm soát nguyên liệu và bảo đảm thông tin sản phẩm rõ ràng.
Muốn làm được điều đó, HTX cần chuyển từ tư duy “có gì bán nấy” sang sản xuất dựa trên nhu cầu khách hàng. Người làm ra sản phẩm phải hiểu ai sẽ mua, mua để sử dụng hay làm quà tặng, mức giá nào phù hợp và sản phẩm cần đáp ứng tiêu chuẩn gì. Khi thị trường được xác định rõ, việc lựa chọn nguyên liệu, quy mô sản xuất và đầu tư thiết bị cũng có cơ sở hơn.
Công nghệ số có thể hỗ trợ quá trình chuyển đổi này. Mạng xã hội, livestream và sàn thương mại điện tử mở thêm kênh tiếp cận khách hàng ngoài địa bàn, trong khi hình ảnh và câu chuyện về người sản xuất giúp sản phẩm tạo dấu ấn giữa nhiều lựa chọn trên thị trường.
Ở cấp độ địa phương, các chương trình xúc tiến thương mại và sự kiện có thể đóng vai trò cầu nối. Bên cạnh không gian trưng bày, hoạt động xúc tiến nên tạo điều kiện để HTX gặp gỡ nhà phân phối, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và đơn vị kinh doanh đặc sản. Những kết nối này có thể mở ra cơ hội đưa sản phẩm vào cửa hàng quà tặng, điểm dừng chân du lịch, cơ sở lưu trú hoặc các chương trình trải nghiệm văn hóa tại địa phương.
Với các HTX vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ còn cần tính đến điều kiện cụ thể của từng cộng đồng: quy mô sản xuất, khả năng tiếp cận vốn, trình độ sử dụng công nghệ và lợi thế nguyên liệu. Đào tạo chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng nhu cầu thực tế; chuyển đổi số chỉ tạo ra kết quả khi HTX có sản phẩm đủ sức cạnh tranh và quy trình giao hàng đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/ocop-tay-bac-khi-dong-bao-lam-chu-cuoc-chuyen-doi.html

