Pháp luật phải ổn định nhưng đủ linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển
Pháp luật phải ổn định để người dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư, quyền và nghĩa vụ được bảo đảm; đồng thời, phải có tính linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập quốc tế - đây là một trong những yêu cầu đưa ra tại Thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp tháng 9/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, Ủy viên thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật vừa ký phát hành Thông báo số 07-TB/BCĐTW Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp tháng 9/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo.
Theo đó, về Báo cáo tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Thường trực Ban Chỉ đạo yêu cầu việc tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải nhận diện được những bất cập có tính hệ thống, làm căn cứ để hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, tháo gỡ “điểm nghẽn” cản trở phát triển. Trên cơ sở số liệu sơ bộ đến ngày 30/6/2026 (xác định 45.793 văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi, đối tượng tổng rà soát), đề nghị các cơ quan Trung ương, địa phương tiếp tục rà soát, kiểm chứng, làm rõ và xác định cụ thể các văn bản cần được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ.
Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy các bộ, ngành Trung ương, tỉnh uỷ, thành uỷ lưu ý một số yêu cầu sau trong lãnh đạo, chỉ đạo quá trình tổng rà soát: Bảo đảm mỗi kiến nghị phải xác định rõ những quy định còn bất cập, tác động, nguyên nhân và phương án xử lý; đồng thời, đối chiếu với phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp và tình hình thực tiễn; Ưu tiên xử lý các quy định pháp luật đang cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, vận hành bộ máy mới và việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; Việc tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải đáp ứng yêu cầu pháp luật thống nhất, đồng bộ, dễ tiếp cận, giảm chi phí tuân thủ.
Về Báo cáo tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lớn trong quá trình xây dựng Đề án “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới”, Thường trực Ban Chỉ đạo yêu cầu Đề án phải xác lập hướng phát triển lâu dài, bám sát Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, phục vụ sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước và thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm.
Thường trực Ban Chỉ đạo cơ bản thống nhất cách tiếp cận hệ thống pháp luật theo nghĩa rộng, bao gồm các quy phạm pháp luật, thiết chế, cơ chế xây dựng và thi hành pháp luật, nhân lực và các điều kiện bảo đảm có liên quan; đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc hệ thống pháp luật, tránh dàn trải. Việc xây dựng Đề án phải quán triệt quan điểm kiên định sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp, pháp luật; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kiểm soát quyền lực, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Pháp luật phải ổn định để người dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư, quyền và nghĩa vụ được bảo đảm; đồng thời, phải có tính linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập quốc tế; thích ứng với tiến bộ khoa học, công nghệ, mô hình kinh doanh mới, biến đổi khí hậu và những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải dựa trên cơ sở tiêu chuẩn, dữ liệu, quản lý rủi ro và trách nhiệm giải trình. Việc thí điểm chính sách có kiểm soát phải xác định rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm của các chủ thể liên quan và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng chịu tác động. Kiên quyết phòng ngừa, ngăn chặn lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm trong xây dựng chính sách, pháp luật.
Thường trực Ban Chỉ đạo thống nhất mục tiêu của Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đến năm 2030, khắc phục căn bản khâu yếu trong thực thi, xử lý dứt điểm chậm, nợ văn bản quy định chi tiết; hoàn thành nhiệm vụ về Định hướng lập pháp và nghiên cứu tổng kết Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đến năm 2045, hướng tới hệ thống pháp luật hiện đại, vận hành trên nền tảng dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo; nền tư pháp dân chủ, liêm chính, chuyên nghiệp. Mỗi mốc thời gian phải có chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể kiểm chứng được và dự kiến nguồn lực bảo đảm.
Đề án cần tập trung làm rõ 3 đột phá chính: Đổi mới tư duy pháp luật để kiến tạo phát triển; Nâng cao năng lực thực thi ngay từ khâu thiết kế chính sách; Xây dựng nhân lực pháp luật có bản lĩnh, chuyên môn, am hiểu công nghệ và hội nhập. Chú trọng hình thành đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực mới, gắn đào tạo, bồi dưỡng với bố trí, sử dụng.
Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Đảng ủy Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy TANDTC, Đảng ủy VKSNDTC, Đảng ủy các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan có liên quan tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện Đề án; tổ chức tham vấn thực chất, tiếp thu đầy đủ ý kiến của các cơ quan, tổ chức, chuyên gia; khẩn trương hoàn thiện hồ sơ Đề án, trình Ban Chỉ đạo tại Phiên họp thứ hai (tháng 12/2026), sau đó tiếp tục hoàn thiện để báo cáo Bộ Chính trị, bảo đảm tiến độ đề ra.
Về Báo cáo chuyên đề về những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, Thường trực Ban Chỉ đạo yêu cầu việc tổ chức thi hành pháp luật là trách nhiệm xuyên suốt từ khâu xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đến đánh giá kết quả thi hành. Cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực, địa bàn và người đứng đầu cơ quan đó chịu trách nhiệm chính về tổ chức thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý; tổ chức pháp chế thực hiện vai trò tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc việc tổ chức thi hành pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ được giao, không dồn trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật sang Bộ, ngành tư pháp. Mỗi chính sách phải xác định rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện, nguồn lực, các điều kiện bảo đảm và kết quả cụ thể cần đạt được.
Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị các cơ quan có liên quan khắc phục triệt để tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết; bảo đảm việc giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật được thực hiện thống nhất, đúng thẩm quyền; phản ánh, kiến nghị phải được trả lời đúng hạn và theo dõi đến khi hoàn thành việc giải quyết; tuyệt đối không sử dụng văn bản hành chính để đặt thêm điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ đối với người dân, doanh nghiệp; hoàn thiện cơ chế tài chính, nội dung, mức chi cho công tác tổ chức thi hành pháp luật; ưu tiên bố trí nhân lực, đào tạo, hỗ trợ chuyên môn cho chính quyền cấp xã; bảo đảm việc phân cấp đi cùng với năng lực tổ chức thực hiện.
Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo Đảng ủy Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan, theo chức năng, thẩm quyền, hoàn thiện các quy định về tổ chức thi hành pháp luật trong dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm gắn xây dựng, thi hành, đánh giá và sửa đổi pháp luật thành một quá trình liên tục; hoàn thiện tiêu chí đánh giá hiệu quả của pháp luật sau ban hành. Kết quả tổ chức thi hành pháp luật phải thể hiện ở việc giảm thời gian, chi phí; quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được bảo vệ; vi phạm được xử lý, khắc phục; đồng thời, là căn cứ xem xét, đánh giá trách nhiệm của người đứng đầu.
Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị các cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu kết nối dữ liệu pháp luật với dữ liệu thực thi, phản ánh, kiến nghị và giải quyết tranh chấp để kịp thời phát hiện bất cập, cảnh báo tình trạng chậm trễ trong tổ chức thi hành; tích hợp trên Nền tảng số Pháp luật Việt Nam, tránh đầu tư phân tán. Dữ liệu phải chính xác, cập nhật, có đầu mối chịu trách nhiệm. Trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phân tích; người có thẩm quyền kiểm chứng, chịu trách nhiệm quyết định; bảo đảm khả năng giải trình, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị Đảng ủy các Bộ, ngành Trung ương, tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo chấn chỉnh tình trạng nhũng nhiễu, tuỳ tiện, né tránh trong thực hiện nhiệm vụ; bảo vệ người làm đúng, xử lý công bằng các hành vi vi phạm pháp luật; giúp người dân hiểu, chấp hành pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; tăng cường trợ giúp người yếu thế, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ; phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên.
Về Báo cáo rà soát, đánh giá cơ chế xử lý vi phạm hành chính, dân sự hiện nay còn nhiều tồn đọng, khó khăn, cần có các giải pháp, biện pháp chấn chỉnh kịp thời, Thường trực Ban Chỉ đạo yêu cầu đối với từng quyết định, từng vụ việc phải bảo đảm hiệu lực pháp luật, trong đó, xử phạt đúng phải được thi hành, tranh chấp phải được giải quyết kịp thời, quyền được công nhận phải được bảo đảm thực hiện. Cần phân biệt vi phạm hành chính với tranh chấp, nghĩa vụ dân sự; xem xét đầy đủ quá trình từ phát hiện, xử lý đến thi hành.
Mục tiêu là nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật, giảm thiểu vi phạm, giữ vững kỷ cương và thượng tôn pháp luật. Đổi mới quản lý theo hướng phòng ngừa rủi ro, tăng cường hướng dẫn tuân thủ pháp luật, xử lý nghiêm các vi phạm và theo dõi việc chấp hành pháp luật; không lấy tiền phạt làm thước đo hiệu quả quản lý. Rà soát đồng bộ chế tài hành chính với chế tài hình sự và các biện pháp quản lý chuyên ngành; khắc phục tình trạng chồng chéo trong kiểm tra và chuyển hồ sơ.
Về giải quyết tranh chấp dân sự, mục tiêu là giảm thời gian, chi phí và nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp. Tập trung rà soát các vụ việc phức tạp, kéo dài, chấn chỉnh trách nhiệm từng khâu, đồng thời bảo đảm độc lập xét xử, không can thiệp trái pháp luật vào vụ việc cụ thể. Hoàn thiện thủ tục tố tụng rút gọn, chứng cứ điện tử, xét xử trực tuyến gắn với quyền tranh tụng.
Tháo gỡ triệt để vướng mắc về xác minh, định giá, đấu giá, tài sản chung, tài sản tranh chấp và đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản sau thi hành án. Nghiên cứu sửa đổi đồng bộ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, tố tụng dân sự, trọng tài; nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật về kiểm tra, Luật về hòa giải thương mại..., báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định…
