Phát triển văn hóa và con người Việt Nam: Bắt đầu từ nếp sống mỗi ngày

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, trong nhiệm kỳ 2026–2030, phát triển văn hóa và con người không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu. Văn hóa phải hiện diện trong đời sống hằng ngày, thu hẹp khoảng cách hưởng thụ và chủ động kiến tạo môi trường văn hóa số lành mạnh.

Trong nhiệm kỳ 2026–2030, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, câu hỏi đặt ra không chỉ là “làm gì để văn hóa mạnh lên”, mà quan trọng hơn: làm sao để người dân cảm nhận được sự thay đổi ấy trong đời sống hằng ngày. Từ câu chuyện ứng xử nơi công cộng, môi trường văn hóa học đường, đến không gian mạng – nơi các giá trị lan truyền nhanh hơn bao giờ hết – văn hóa đang trở thành “thước đo mềm” của một xã hội văn minh và bền vững. Trao đổi với phóng viên, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội, nhấn mạnh: phát triển văn hóa không thể dừng ở phong trào, mà phải trở thành môi trường sống, là nền tảng để con người trưởng thành và xã hội tiến bộ.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội

Đổi mới cách văn hóa hiện diện trong đời sống hằng ngày

PV: Trong nhiệm kỳ 2026–2030, theo ông, phát triển văn hóa và con người nên tập trung “đổi mới” những điều gì trong đời sống xã hội để người dân cảm nhận rõ nhất, và nếu phải chọn 2–3 ưu tiên quan trọng nhất thì đó là những ưu tiên nào, vì sao?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Trong nhiệm kỳ 2026–2030, khi nói đến phát triển văn hóa và con người, theo tôi, điều cốt lõi không chỉ là “làm thêm cái gì mới”, mà là đổi mới cách văn hóa hiện diện trong đời sống hằng ngày, để người dân cảm nhận được, sống cùng và được hưởng lợi trực tiếp từ văn hóa. Đổi mới lớn nhất phải nằm ở chỗ: văn hóa không còn là khẩu hiệu hay hoạt động phong trào, mà trở thành chuẩn mực ứng xử, môi trường sống và động lực tinh thần định hình cách con người lao động, sáng tạo, ứng xử với nhau và với xã hội.

Tôi cho rằng có ba ưu tiên then chốt về văn hóa và con người giai đoạn 2026–2030.

Thứ nhất, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, an toàn và nhân văn trong đời sống thường nhật, từ gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp cho đến không gian công cộng và không gian số. Người dân sẽ cảm nhận rõ nhất sự đổi mới khi các giá trị như tôn trọng, kỷ cương, trách nhiệm, trung thực, nhân ái không chỉ được nói đến, mà được bảo vệ bằng luật pháp, được nuôi dưỡng bằng giáo dục, và được củng cố bằng các chuẩn mực xã hội rõ ràng.

Phát triển văn hóa trong nhiệm kỳ tới phải hướng tới việc thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa các nhóm xã hội.

Phát triển văn hóa trong nhiệm kỳ tới phải hướng tới việc thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa các nhóm xã hội.

Thứ hai, bảo đảm công bằng trong thụ hưởng và tham gia đời sống văn hóa. Phát triển văn hóa trong nhiệm kỳ tới phải hướng tới việc thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa các nhóm xã hội. Khi người dân ở vùng sâu, vùng xa, công nhân trong khu công nghiệp, hay người yếu thế có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận không gian văn hóa, sáng tạo văn hóa và tự hào về bản sắc của mình, thì đó chính là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy văn hóa đang “đi vào đời sống”.

Thứ ba, đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển, coi đầu tư cho con người – cả về nhân cách, tri thức, năng lực sáng tạo và bản lĩnh văn hóa – là đầu tư cho phát triển bền vững. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và chuyển đổi số mạnh mẽ, một xã hội chỉ thực sự mạnh khi con người của xã hội đó có nền tảng giá trị vững chắc, có khả năng thích ứng, nhưng không đánh mất mình.

Nói cách khác, nhiệm kỳ 2026–2030 cần làm cho văn hóa trở nên gần hơn, thật hơn và có ích hơn với mỗi người dân. Khi người dân cảm thấy sống văn minh hơn, an tâm hơn, tự hào hơn và được bảo vệ tốt hơn về mặt giá trị, thì đó chính là thước đo sinh động nhất của sự phát triển văn hóa và con người.

PV: Theo ông, đâu là rào cản lớn nhất hiện nay khiến các chủ trương phát triển văn hóa đôi khi chưa đi vào thực chất?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, rào cản lớn nhất hiện nay khiến nhiều chủ trương phát triển văn hóa chưa đi vào thực chất nằm ở khoảng cách giữa nhận thức chính trị rất đúng, rất tiến bộ với cách tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội. Chúng ta đã khẳng định rõ văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh của phát triển, nhưng trong thực tiễn, không ít nơi vẫn coi văn hóa là lĩnh vực “mềm”, làm được thì tốt, chưa làm được cũng chưa thấy hệ lụy ngay.

Một rào cản quan trọng khác là thể chế và cơ chế chính sách về văn hóa còn thiếu đồng bộ và chưa theo kịp thực tiễn. Nhiều chủ trương đúng nhưng khi đi vào triển khai lại vướng quy trình, thủ tục, tư duy quản lý cũ, hoặc thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo. Văn hóa là lĩnh vực cần không gian sáng tạo và sự linh hoạt, nhưng không ít khi lại bị áp dụng các cách làm cứng nhắc của quản lý hành chính thuần túy, dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí làm triệt tiêu động lực của người làm văn hóa.

Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho văn hóa chưa tương xứng, cả về tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất. Đầu tư cho văn hóa vẫn chủ yếu mang tính dàn trải, thiếu trọng tâm, trong khi đội ngũ cán bộ văn hóa ở cơ sở còn mỏng, kiêm nhiệm nhiều việc, chưa được đào tạo bài bản để đáp ứng yêu cầu mới. Khi người thực thi chính sách không đủ điều kiện và động lực, thì chủ trương dù đúng cũng khó tạo chuyển biến rõ rệt.

Ngoài ra, không thể không nhắc tới tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước trong một bộ phận xã hội, trong khi sự tham gia chủ động của cộng đồng, doanh nghiệp và người dân vào phát triển văn hóa vẫn còn hạn chế. Văn hóa chỉ thực sự sống khi được xã hội cùng làm, cùng giữ gìn và cùng sáng tạo. Nếu chưa tạo được cơ chế để xã hội hóa một cách lành mạnh, minh bạch và hiệu quả, thì các chủ trương phát triển văn hóa rất khó đi sâu vào đời sống.

Như vậy, rào cản lớn nhất không phải là thiếu chủ trương, mà là thiếu một hệ thống thực thi đủ mạnh, đủ linh hoạt và đủ trách nhiệm, để biến những định hướng đúng đắn về văn hóa thành những thay đổi cụ thể, bền vững trong đời sống xã hội.

Ưu tiên chủ động kiến tạo môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian số

PV: Trong bối cảnh chuyển đổi số và mạng xã hội tác động mạnh đến lối sống, theo ông, nhiệm kỳ 2026–2030 cần ưu tiên giải pháp nào để vừa lan tỏa giá trị tốt đẹp, vừa hạn chế lệch chuẩn, phản văn hóa?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Trong bối cảnh chuyển đổi số và mạng xã hội tác động ngày càng sâu rộng đến lối sống, cách nghĩ và hành vi xã hội, theo tôi, nhiệm kỳ 2026–2030 cần xác định rõ một quan điểm xuyên suốt: không đứng ngoài không gian số, nhưng cũng không buông lỏng giá trị. Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông, mà đã trở thành một không gian văn hóa đặc biệt, nơi các giá trị được hình thành, lan tỏa hoặc bị lệch chuẩn rất nhanh.

Ưu tiên hàng đầu là chủ động kiến tạo môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian số, thay vì chỉ tập trung vào xử lý vi phạm. Nhà nước cần đóng vai trò “người thiết kế luật chơi” và “người bảo vệ giá trị”, thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý, chuẩn mực đạo đức và quy tắc ứng xử trên môi trường mạng, đồng thời khuyến khích sáng tạo nội dung tích cực, nhân văn, có chiều sâu văn hóa. Khi cái tốt, cái đẹp, cái tử tế có điều kiện lan tỏa mạnh mẽ hơn, thì cái xấu, cái lệch chuẩn tự nhiên sẽ bị thu hẹp không gian tồn tại.

Cùng với đó, phải coi nâng cao năng lực văn hóa số cho người dân, đặc biệt là giới trẻ, là một giải pháp căn cơ. Không thể chỉ yêu cầu “đừng lệch chuẩn”, mà cần trang bị cho người dân khả năng phân biệt đúng – sai, thật – giả, giá trị – phản giá trị trong môi trường số. Giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng truyền thông và trách nhiệm công dân trên không gian mạng cần được tích hợp một cách bài bản vào nhà trường, gia đình và các chương trình truyền thông xã hội.

Một ưu tiên quan trọng khác là xây dựng và phát triển hệ sinh thái nội dung văn hóa Việt Nam trên nền tảng số. Phim ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, di sản, lối sống, câu chuyện lịch sử – nếu được số hóa, kể lại bằng ngôn ngữ hiện đại và công nghệ mới – sẽ trở thành “lá chắn mềm” rất hiệu quả trước các xu hướng phản văn hóa, lai căng hoặc giật gân độc hại. Khi người trẻ tìm thấy niềm tự hào, sự hấp dẫn và cảm hứng sáng tạo từ chính văn hóa Việt Nam, thì sự lệch chuẩn sẽ giảm đi một cách tự nhiên.

Thêm vào đó, chúng ta cần tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, các tổ chức xã hội và cộng đồng sáng tạo trong quản lý và phát triển văn hóa trên không gian mạng. Văn hóa số không thể được xây dựng chỉ bằng mệnh lệnh hành chính, mà phải bằng sự đồng thuận xã hội, trách nhiệm cộng đồng và sự tham gia tích cực của chính người dùng.

Nói ngắn gọn, nhiệm kỳ 2026–2030 cần chuyển từ tư duy “ứng phó với mặt trái của mạng xã hội” sang tư duy chủ động dẫn dắt giá trị trên không gian số, để công nghệ trở thành công cụ làm giàu đời sống tinh thần, chứ không làm nghèo đi bản sắc và nhân cách con người.

Văn hóa và con người “mạnh lên” khi thể chế vững hơn, con người tốt hơn, môi trường sống lành mạnh hơn và giá trị Việt Nam được lan tỏa rộng hơn.

Văn hóa và con người “mạnh lên” khi thể chế vững hơn, con người tốt hơn, môi trường sống lành mạnh hơn và giá trị Việt Nam được lan tỏa rộng hơn.

PV: Ông có thể gợi ý các nhóm giải pháp trọng tâm và một số chỉ tiêu cụ thể để đánh giá mức độ “mạnh lên” của văn hóa và con người trong giai đoạn 2026–2030?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Để văn hóa và con người thực sự “mạnh lên” trong giai đoạn 2026–2030, theo tôi, chúng ta cần tiếp cận theo hướng vừa có nhóm giải pháp trọng tâm, vừa có các chỉ tiêu đủ rõ để đo lường, tránh tình trạng nói nhiều về giá trị nhưng khó đánh giá mức độ chuyển biến trong thực tế.

Trước hết là nhóm giải pháp về thể chế và môi trường phát triển văn hóa. Trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa theo hướng đồng bộ, hiện đại, lấy con người làm trung tâm và tạo điều kiện cho sáng tạo. Văn hóa chỉ mạnh khi được bảo vệ bằng thể chế và được khuyến khích bằng chính sách. Chỉ tiêu có thể đo lường là mức độ hoàn thiện các luật, nghị định, chiến lược liên quan đến văn hóa; tỷ lệ địa phương ban hành và thực hiện hiệu quả các chương trình phát triển văn hóa – con người gắn với phát triển kinh tế – xã hội; mức độ hài lòng của người dân đối với môi trường văn hóa nơi mình sinh sống.

Thứ hai là nhóm giải pháp về đầu tư và nguồn lực cho văn hóa và con người. Cần chuyển mạnh từ tư duy “chi cho văn hóa” sang “đầu tư cho văn hóa”, có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt là ở cơ sở, vùng khó khăn và không gian văn hóa mới như không gian số. Các chỉ tiêu có thể bao gồm: tỷ lệ chi cho văn hóa trong tổng chi ngân sách; số lượng và chất lượng thiết chế văn hóa hoạt động hiệu quả; tỷ lệ người dân, nhất là thanh thiếu niên, thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo.

Thứ ba là nhóm giải pháp về xây dựng con người và hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ mới. Trọng tâm là giáo dục đạo đức, lối sống, trách nhiệm công dân, tinh thần thượng tôn pháp luật và năng lực văn hóa số. Văn hóa mạnh không chỉ thể hiện ở nhiều hoạt động, mà ở chất lượng con người. Chỉ tiêu đánh giá có thể là mức độ chuyển biến trong hành vi ứng xử xã hội, giảm các hành vi lệch chuẩn; tăng các mô hình, phong trào sống đẹp, sống trách nhiệm; mức độ tin cậy xã hội và sự gắn kết cộng đồng.

Cuối cùng là nhóm giải pháp về lan tỏa giá trị văn hóa và sức mạnh mềm Việt Nam, cả trong nước và quốc tế. Cần phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, nội dung số, ngoại giao văn hóa, để giá trị Việt Nam được kể lại bằng ngôn ngữ hiện đại. Các chỉ tiêu có thể là đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP; số lượng sản phẩm văn hóa, nghệ thuật Việt Nam có sức lan tỏa khu vực và quốc tế; mức độ nhận diện tích cực của hình ảnh con người và văn hóa Việt Nam trên các nền tảng toàn cầu.

Tóm lại, văn hóa và con người “mạnh lên” khi thể chế vững hơn, con người tốt hơn, môi trường sống lành mạnh hơn và giá trị Việt Nam được lan tỏa rộng hơn. Nếu nhiệm kỳ 2026–2030 làm được những điều đó một cách thực chất và có thể đo đếm được, thì đó sẽ là nền tảng rất quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn tiếp theo.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hà Phương/VOV.VN

Nguồn VOV: https://vov.vn/van-hoa/phat-trien-van-hoa-va-con-nguoi-viet-nam-bat-dau-tu-nep-song-moi-ngay-post1260271.vov