Phòng, chống gian lận hoá đơn
Hóa đơn điện tử đang tạo ra một kho dữ liệu lớn cho ngành thuế, nhưng để ngăn chặn gian lận và mua bán hóa đơn trái phép, vấn đề không còn nằm ở việc kiểm tra từng hóa đơn hay từng người nộp thuế. Cơ quan thuế đang đặt trọng tâm vào phân tích chuỗi giao dịch, mạng lưới doanh nghiệp và kết nối dữ liệu để nhận diện rủi ro sớm, đồng thời tránh gây thêm gánh nặng cho những doanh nghiệp tuân thủ.
Từ kiểm tra từng hóa đơn đến nhìn cả chuỗi giao dịch
Gian lận và mua bán hóa đơn trái phép đang đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức quản lý thuế. Khi hóa đơn điện tử được triển khai trên phạm vi toàn quốc, lượng dữ liệu mà cơ quan thuế có thể tiếp cận ngày càng lớn. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ thực sự có giá trị khi được kết nối và phân tích để nhận diện những giao dịch bất thường.
Tại Hội nghị chuyên đề về phòng, chống gian lận và mua bán hóa đơn trái phép tổ chức tại Lâm Đồng trong hai ngày 1-2/10, Phó Cục trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh sang phòng ngừa ngay trong quá trình quản lý.

Phó Cục trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh . Ảnh GDT.
Theo lãnh đạo Cục Thuế, dữ liệu hóa đơn điện tử cùng với dữ liệu đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và tình trạng hoạt động của người nộp thuế đang trở thành nguồn thông tin quan trọng để cơ quan quản lý phân tích giao dịch, đối chiếu và nhận diện rủi ro.
Điểm đáng chú ý là cơ quan thuế không chỉ xem xét riêng từng hóa đơn hoặc từng doanh nghiệp. Các thông tin cần được đặt trong mối quan hệ giữa các bên giao dịch, chuỗi giao dịch và mạng lưới các chủ thể có liên quan để nhìn rõ hơn bản chất hoạt động kinh tế.
Phó Cục trưởng Đặng Ngọc Minh cho rằng có nền tảng dữ liệu lớn mới chỉ là lợi thế ban đầu. Quan trọng hơn là phải kết nối, phân tích dữ liệu và chuyển kết quả phân tích thành hành động nghiệp vụ cụ thể.
Cách tiếp cận này cũng nhằm thay đổi phương thức kiểm tra thuế. Thay vì kiểm tra dàn trải, cơ quan thuế hướng tới lựa chọn đúng đối tượng có rủi ro, xác định đúng những giao dịch cần xác minh, qua đó sử dụng hiệu quả nguồn lực và hạn chế ảnh hưởng không cần thiết tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Một yêu cầu được đặt ra là phòng ngừa gian lận hóa đơn không thể chỉ bắt đầu khi vụ việc đã xảy ra.
Công tác quản lý cần được thực hiện xuyên suốt từ khi doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký thuế, sử dụng hóa đơn, kê khai, nộp thuế cho đến hoàn thuế. Cơ quan thuế phải theo dõi diễn biến hoạt động của người nộp thuế, khai thác thông tin để nhận diện sớm những dấu hiệu bất thường và tiếp tục theo dõi cho đến khi có kết quả xử lý.
Trong đó, dữ liệu hóa đơn điện tử có thể đóng vai trò như một “dấu vết” để nhận diện những mối quan hệ bất thường giữa các doanh nghiệp.
Nếu chỉ nhìn từng hóa đơn riêng lẻ, một giao dịch có thể không bộc lộ dấu hiệu rõ ràng. Nhưng khi đặt nhiều giao dịch trong cùng một chuỗi, giữa nhiều doanh nghiệp có quan hệ với nhau, những bất thường có thể xuất hiện rõ hơn.
Do đó, Cục Thuế đang đặt vấn đề nghiên cứu mô hình kiểm tra thuế theo mạng lưới dựa trên dữ liệu lớn. Mục tiêu là xác định đúng trọng tâm kiểm tra, thay vì mở rộng kiểm tra một cách cơ học.
Quá trình này cũng đòi hỏi sự liên thông từ khâu phát hiện, phân tích, xác minh đến kiểm tra và xử lý. Kết quả của từng vụ việc sau đó phải được đưa trở lại hệ thống để hoàn thiện các tiêu chí cảnh báo rủi ro.
Nói cách khác, một vụ việc gian lận hóa đơn không chỉ dừng lại ở việc xử lý doanh nghiệp vi phạm, mà còn phải trở thành dữ liệu đầu vào để cơ quan thuế nhận diện những trường hợp tương tự trong tương lai.
Công nghệ có thể hỗ trợ phát hiện và phân tích, nhưng việc đánh giá, xác minh và xử lý vẫn phải dựa trên hồ sơ, chứng cứ và quy định pháp luật.
Không để doanh nghiệp tuân thủ bị ảnh hưởng
Việc siết quản lý hóa đơn cũng đặt ra một yêu cầu song song: chống gian lận nhưng không biến công tác kiểm tra thành gánh nặng đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật.
Đây là lý do Cục Thuế nhấn mạnh việc lựa chọn đúng trọng tâm, sử dụng hiệu quả nguồn lực và phân tích rủi ro trước khi kiểm tra.
Phó Cục trưởng Đặng Ngọc Minh cho rằng phòng, chống gian lận hóa đơn không chỉ nhằm bảo vệ nguồn thu ngân sách mà còn phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, bảo đảm công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế và xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch.
Theo hướng này, dữ liệu càng được khai thác tốt thì cơ quan thuế càng có điều kiện phân loại người nộp thuế theo mức độ rủi ro. Những trường hợp tuân thủ tốt có thể được hạn chế kiểm tra không cần thiết, trong khi nguồn lực quản lý được tập trung vào những giao dịch và doanh nghiệp có dấu hiệu bất thường.
Một mắt xích khác là phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng. Những vụ việc liên quan đến nhiều địa bàn, nhiều doanh nghiệp hoặc nhiều lĩnh vực đòi hỏi thông tin phải được trao đổi kịp thời giữa cơ quan thuế, công an, cơ quan đăng ký kinh doanh, Hải quan, tổ chức tín dụng và các đơn vị liên quan trong phạm vi chức năng, thẩm quyền.
Mục tiêu không chỉ là xử lý một vụ việc cụ thể mà còn tìm ra dấu hiệu có thể nhận diện sớm, những thông tin còn thiếu và những khâu trong quy trình quản lý cần điều chỉnh.
Đối với hành vi gian lận, mua bán hóa đơn trái phép, đặc biệt là những hành vi cố ý, có tổ chức, quan điểm được đặt ra là phải xử lý nghiêm theo quy định. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm phải kịp thời chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/phong-chong-gian-lan-hoa-don.html
