Quan hệ Việt Nam - Nga: Biến chiều sâu lịch sử thành sức mạnh cho tương lai

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn ra trong một thế giới đang biến động mạnh và các đường phân tuyến chiến lược ngày càng rõ nét. Nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế, chuyến thăm không chỉ nhằm củng cố một tình hữu nghị truyền thống. Quan trọng hơn, nó cho thấy cách Việt Nam đang thực hành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và đặt ra yêu cầu chuyển hóa vốn chính trị rất lớn của quan hệ Việt - Nga thành những giá trị phát triển mới.

Chuyến thăm trong thế giới nhiều phân tuyến

Có lẽ ít thời điểm nào trong những thập niên gần đây môi trường quốc tế lại chứng kiến nhiều biến động đồng thời như hiện nay. Cạnh tranh giữa các nước lớn gia tăng; xung đột tại nhiều khu vực kéo dài; an ninh, kinh tế, năng lượng, công nghệ và chuỗi cung ứng ngày càng gắn chặt với nhau. Những đường phân tuyến chiến lược giữa các trung tâm quyền lực cũng trở nên rõ hơn. Chính trong bối cảnh đó, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga từ ngày 07 - 09/9/2026 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một chuyến thăm song phương thông thường.

Trong các cuộc gặp với Thủ tướng Mikhail Mishustin, lãnh đạo hai viện Quốc hội Nga và Chủ tịch Đảng Nước Nga Thống nhất Dmitry Medvedev, một thông điệp xuyên suốt được hai bên nhấn mạnh là mong muốn đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện phát triển thực chất và hiệu quả hơn.

Từ góc nhìn chiến lược, có một câu hỏi quan trọng hơn đặt ra rằng Việt Nam phát triển quan hệ với Nga như thế nào trong một thế giới đang có xu hướng phân cực? Theo tôi, câu trả lời nằm ở ba từ khóa: "độc lập", "cân bằng" và "thực chất".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói chuyện thân mật với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Nga. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói chuyện thân mật với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Nga. Ảnh: TTXVN

Độc lập, tự chủ không có nghĩa là đứng ngoài

Việt Nam và Nga có một tài sản mà không phải quan hệ song phương nào cũng có. Đó là chiều sâu lịch sử và mức độ tin cậy chính trị được tích lũy qua nhiều thế hệ. Nhiều người Việt Nam vẫn nhớ sự hỗ trợ to lớn của Liên Xô trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc tái thiết và phát triển sau chiến tranh. Những công trình như thủy điện Hòa Bình, cầu Thăng Long hay Liên doanh Vietsovpetro không chỉ là các dự án kinh tế. Chúng đã trở thành một phần ký ức của quan hệ Việt Nam - Liên Xô và sau này là Việt Nam - Liên bang Nga.

Tuy vậy, trong quan hệ quốc tế, ký ức lịch sử dù quý giá đến đâu cũng không thể tự động bảo đảm cho tương lai. Giá trị của lịch sử chỉ thực sự được phát huy khi nó tiếp tục tạo ra lợi ích cho các thế hệ hiện tại và tương lai. Bởi vậy, bài toán lớn nhất của quan hệ Việt - Nga hiện nay chính là làm thế nào chuyển hóa vốn chính trị và sự tin cậy được tích lũy trong hơn 75 năm qua thành những lợi ích và dự án hợp tác cụ thể trong thế kỷ XXI.

Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm lần này gặp các cựu chiến binh, đại diện Hội Hữu nghị Nga - Việt, cộng đồng người Việt Nam tại Nga, đồng thời nhấn mạnh giao lưu nhân dân và kết nối giữa các thế hệ mang ý nghĩa biểu tượng rõ ràng, nhưng thông điệp không nên chỉ được hiểu là nhìn về quá khứ.

Một tình hữu nghị muốn trường tồn không thể chỉ là tình hữu nghị của những thế hệ đã từng biết và giúp đỡ nhau. Nó phải trở thành mối quan hệ của những thế hệ có lý do và lợi ích để tiếp tục hợp tác với nhau.

Không phải "chọn bên", mà là mở rộng không gian chiến lược

Trong phân tích quan hệ quốc tế đôi khi tồn tại một cách nhìn khá đơn giản khi một quốc gia tăng cường quan hệ với nước này đồng nghĩa với việc phải xa hơn nước khác. Cách nhìn đó không phù hợp với chính sách đối ngoại của Việt Nam. Ngay sau chuyến thăm Nga, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục thăm Pháp và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris.

Nếu nhìn rộng hơn, Việt Nam hiện duy trì và phát triển quan hệ với nhiều trung tâm quyền lực quan trọng trên thế giới, dù giữa chính các trung tâm ấy tồn tại không ít khác biệt, thậm chí cạnh tranh chiến lược. Đó không phải là nghịch lý mà chính là biểu hiện của một đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa.

Độc lập, tự chủ không có nghĩa là giữ khoảng cách như nhau với tất cả các nước. Độc lập, tự chủ trước hết là khả năng tự xác định lợi ích quốc gia và tự quyết định quan hệ với từng đối tác trên cơ sở lợi ích đó.

Vì vậy, phát triển quan hệ với Nga không có nghĩa Việt Nam phải lựa chọn giữa Nga với bất kỳ đối tác nào khác. Việt Nam không lựa chọn giữa các nước lớn mà lựa chọn lợi ích quốc gia, hòa bình, phát triển và quyền tự chủ chiến lược của mình. Trong một thế giới có xu hướng phân cực, khả năng duy trì quan hệ ổn định với nhiều trung tâm quyền lực không phải là điểm yếu mà là một nguồn lực chiến lược. Đa phương hóa, đa dạng hóa vì thế không đơn thuần là một khẩu hiệu ngoại giao. Đó là phương thức giúp Việt Nam mở rộng không gian chiến lược, đa dạng hóa nguồn lực phát triển và hạn chế nguy cơ phụ thuộc quá mức vào bất kỳ một đối tác đơn lẻ nào.

Tin cậy chính trị là một trong những tài sản lớn nhất của quan hệ Việt - Nga

Nếu tin cậy chính trị là một trong những tài sản lớn nhất của quan hệ Việt - Nga thì kinh tế lại là lĩnh vực cho thấy khá rõ khoảng cách giữa tiềm năng và kết quả thực tế. Đây là một trong những bài toán cần được ưu tiên giải quyết trong chuyến thăm.

Trong cuộc hội kiến Thủ tướng Nga Mikhail Mishustin, hai bên nhất trí cần tạo những đột phá mạnh mẽ hơn về thương mại, tận dụng tính bổ sung của hai nền kinh tế và phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có. Đáng chú ý hơn là việc hai bên xác định khoa học - công nghệ là lĩnh vực có nhiều tiềm năng để trở thành một động lực mới của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nga.

Đây không chỉ là việc bổ sung thêm một lĩnh vực hợp tác mà phản ánh một sự chuyển dịch đáng chú ý trong tư duy về quan hệ hai nước. Trong nhiều thập niên, năng lượng là một trong những trụ cột thành công nhất của quan hệ Việt - Nga, với Vietsovpetro là biểu tượng nổi bật. Năng lượng chắc chắn vẫn giữ vị trí quan trọng trong tương lai. Tuy vậy, quan hệ của thế kỷ XXI không thể chỉ dựa trên những lĩnh vực đã thành công trong thế kỷ XX. Nga có những thế mạnh về khoa học cơ bản, công nghệ hạt nhân, năng lượng, hàng không - vũ trụ, kỹ thuật và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Trong khi đó, Việt Nam đang đặt khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực vào vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển.

Nếu dầu khí từng là một biểu tượng nổi bật của hợp tác Việt - Nga trong những thập niên trước, thì khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lượng mới và đào tạo nhân lực chất lượng cao hoàn toàn có thể trở thành những trụ cột mới của quan hệ trong những thập niên tới. Nhưng hợp tác cần hướng tới những kết quả sâu hơn việc mua bán sản phẩm hay triển khai những dự án riêng lẻ. Điều quan trọng với Việt Nam là những quan hệ hợp tác đó phải góp phần nâng cao năng lực công nghệ, năng lực tự chủ và chất lượng nguồn nhân lực của chính mình.

Từ "di sản" thành "tài sản chiến lược"

Chuyến thăm Nga lần này diễn ra khi cả hai nước đều đứng trước những yêu cầu phát triển mới và môi trường quốc tế cũng rất khác so với thời điểm hai nước thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện năm 2012. Điều đó đặt ra yêu cầu phải nhìn quan hệ Việt - Nga bằng cả hai chiều, vừa trân trọng quá khứ vừa hướng mạnh về tương lai. Trong giai đoạn tới, quan hệ hai nước cần thực hiện ít nhất ba chuyển đổi:

Thứ nhất, từ tình cảm truyền thống sang tình cảm truyền thống cộng với lợi ích phát triển. Hai yếu tố này không đối lập mà phải bổ sung cho nhau.

Thứ hai, từ hợp tác chủ yếu dựa trên các lĩnh vực truyền thống sang những lĩnh vực của tương lai, đặc biệt là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lượng mới, đào tạo nhân lực và những ngành có giá trị gia tăng cao.

Và thứ ba, từ một quan hệ được gìn giữ chủ yếu bởi ký ức của các thế hệ đi trước sang một quan hệ được tiếp nối bởi lợi ích và khát vọng của các thế hệ trẻ, doanh nghiệp, trường đại học, nhà khoa học và các địa phương hai nước.

Tóm lại, nếu thực hiện được ba chuyển đổi đó, vốn lịch sử hơn 75 năm sẽ không chỉ là một di sản quý giá mà có thể trở thành một tài sản chiến lược phục vụ sự phát triển của cả hai quốc gia. Nhìn theo cách đó, ý nghĩa sâu xa của chuyến thăm cấp Nhà nước tới Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ nằm ở số lượng cuộc gặp hay văn kiện được ký kết. Bên cạnh đó, chuyến thăm còn phát đi một thông điệp về cách Việt Nam định vị mình trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng trên cơ sở kiên trì độc lập, tự chủ nhưng không tự cô lập; phát triển quan hệ với các trung tâm quyền lực nhưng không để mình bị cuốn vào logic chọn bên; trân trọng những người bạn truyền thống nhưng luôn đặt quan hệ ấy trong yêu cầu phát triển mới của đất nước.

Quan hệ Việt - Nga có một lịch sử đặc biệt, nhưng thước đo quan trọng nhất của mối quan hệ ấy trong giai đoạn mới không phải chỉ là chúng ta đã đi cùng nhau bao lâu mà là hai nước có thể cùng nhau đi được bao xa trong tương lai.

PGS.TS Bùi Hải Đăng (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM)

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/tin-chinh/quan-he-viet-nam-nga-bien-chieu-sau-lich-su-thanh-suc-manh-cho-tuong-lai_197522.html