Quản lý rủi ro là yếu tố then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng
Trao đổi với ĐTTC, PGS.TS BÙI QUANG TUẤN, Phó Chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam, nhận xét năm 2025 có thể xem là năm ghi dấu ấn quan trọng nhất trong giai đoạn tăng trưởng 2021-2025.
PHÓNG VIÊN: - Kết thúc năm 2025, cũng là kết thúc giai đoạn tăng trưởng 2021-2025. Ông có thể đánh giá lại chặng đường này?
PGS-TS BÙI QUANG TUẤN: - Tôi cho rằng dấu ấn lớn nhất của kinh tế Việt Nam trong toàn bộ giai đoạn 2021-2025 là sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng cao, ổn định vĩ mô và bắt đầu dịch chuyển sang mô hình tăng trưởng chất lượng hơn. Trong đó, tôi ấn tượng với mức tăng trưởng GDP 8,02% năm 2025. Bởi lẽ, đây là tốc độ Việt Nam chưa từng đạt được kể từ sau khủng hoảng tài chính 2008-2009.
Điều đáng nói, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn này không chỉ dựa vào mở rộng quy mô, mà chú trọng hơn đến chất lượng, thông qua việc nâng cao năng suất, tăng đóng góp của TFP (năng suất tổng các nhân tố) và cải thiện năng suất lao động.
Đây chính là hướng đi mà Việt Nam phải kiên trì trong giai đoạn tăng trưởng sắp tới, nhằm tránh bẫy thu nhập trung bình, hướng đến mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và là nước thu nhập cao vào năm 2045.

PGS-TS Bùi Quang Tuấn
Bên cạnh việc chú trọng đến năng suất, Việt Nam cũng đang nỗ lực xanh hóa nền kinh tế. Thời gian gần đây, các chiến lược tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế tuần hoàn đã được lồng ghép vào các chính sách. Việt Nam cũng bắt đầu thí điểm thị trường carbon từ năm 2025, dự kiến vận hành chính thức vào năm 2028.
Một dấu ấn quan trọng khác là khả năng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kiểm soát lạm phát. Trong bối cảnh đầu tư công được đẩy mạnh và lượng vốn lớn được bơm vào nền kinh tế, lạm phát vẫn duy trì ở mức tương đối thấp, chỉ khoảng 3% trong giai đoạn 2021-2024, và năm 2025 là 3,3%, thấp hơn mục tiêu dưới 4% do Quốc hội và Chính phủ đề ra.
Tuy nhiên, nhìn lại năm 2022, chúng ta cũng từng ghi nhận mức tăng trưởng rất cao. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về sự khác biệt và ý nghĩa của mức tăng trưởng năm 2025?
Trong giai đoạn 2020-2025, năm 2022 từng ghi nhận mức tăng trưởng cao đột biến, nhưng đó là sự “bật lại” từ giai đoạn dịch bệnh và đứt gãy chuỗi cung ứng ở mức 2,58% năm 2021, mức bình thường của giai đoạn sau dịch. Ngoài nỗ lực chống dịch, không cần cố gắng gì nhiều thì tăng trưởng tự nhiên so với mức thấp như vậy thì đã ở mức cao rồi.
Vì vậy, tăng trưởng cao trên 8% của năm 2022 có đặc thù, không phản ánh hết nội lực và quỹ đạo của nền kinh tế.
Còn năm 2025 thì hoàn toàn khác. Tôi nghĩ GDP đạt mức 8,02% thì là tăng trưởng đến từ sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt có vai trò của chính sách của chính phủ, năng lực thực chất của nền kinh tế được phát huy và bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước tương đối thuận lợi cho thúc đẩy thương mại và đầu tư ở Việt Nam.
Nói cách khác, nếu như năm 2022 là “cú nhảy” do xuất phát điểm thấp, thì năm 2025 là “bước sải dài” nhờ năng lực nội sinh của nền kinh tế. Chính điều này mới là ý nghĩa lớn nhất, cho thấy chúng ta đang quyết tâm rõ hơn để đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả, bền vững.
- Theo ông, nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang gặp những hạn chế nào, và đâu là những rào cản chính có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng trong giai đoạn 2026-2030?
Mặc dù Việt Nam đạt được nhiều thành tựu, nhưng nền kinh tế vẫn còn một số hạn chế cần được giải quyết.
Thứ nhất, đó là vấn đề thể chế, là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Trong thể chế, ngoài một số vấn đề về chất lượng chính sách, việc tổ chức thực hiện và phối hợp thực hiện ở các cấp còn đang gặp nhiều vướng mắc. Chính sách vì vậy, kể cả là chính sách đã được thiết kế tốt đi nữa thì cũng chưa đi vào được cuộc sống ngay để giải quyết được các vấn đề cấp bách đặt ra.
Thứ hai, đó là vấn đề chuyển đổi cơ cấu. Có thể nói cơ cấu kinh tế thay đổi rất chậm từ năm 2017 đến nay. Nhiều mục tiêu của công nghiệp hóa chưa đạt được. Năng suất lao động thấp, đóng góp của TFP còn thấp trong GDP, công nghiệp chế biến - chế tạo mới chỉ khoảng 24% GDP, cơ cấu sản phẩm hàng hóa công nghệ cao trong các sản phẩm hàng hóa vẫn còn thấp.
Thứ ba, năng lực chế biến còn hạn chế. Do đó thiếu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Ví dụ, khai thác tài nguyên khoáng sản, trong đó có đất hiếm, có tiềm năng lớn nhưng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu thô do thiếu năng lực chế biến và tinh chế. Điều này đòi hỏi chúng ta phải đầu tư rất nhiều cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo so với trước đây. Mức đầu tư cho khoa học công nghệ của chúng ta hiện mới chỉ khoảng 0,5-0,6% GDP là mức rất thấp, chỉ bằng 1/4 mức bình quân của thế giới.
Thứ tư, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Hiện nay, mỗi năm chúng ta thiếu khoảng 150.000 kỹ sư IT và lập trình viên để phục vụ cho công nghiệp công nghệ cao, đồng thời lao động kỹ năng còn thiếu và yếu.
Thứ năm, mặc dù kết cấu hạ tầng đã được cải thiện khá rõ rệt như giao thông, năng lượng, tuy nhiên hạ tầng số chưa phát triển, đủ đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số. Cần phải có đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng dữ liệu, hạ tầng kết nối, hạ tầng nền tảng số cùng với việc hoàn thiện thể chế để thúc đẩy chuyển đổi số, tạo ra các động lực mới cho tăng trưởng và phát triển nhanh.
Thứ sáu, cơ chế tài chính ở một số lĩnh vực còn đang là sự cản trở phát triển. Ví dụ như cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhiều qui định, định mức lạc hậu vẫn còn đang được áp dụng. Bên cạnh đó, cần phải có đột phá mạnh mẽ hơn nữa về cơ chế huy động và sử dụng tài chính. Cần có cơ chế đột phá hơn để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia mạnh mẽ vào đầu tư các công trình lớn, đặc biệt thông qua các mô hình hợp tác công - tư (PPP).
Thứ bảy, nhiều vấn đề về môi trường chưa được giải quyết làm ảnh hưởng đến chất lượng của tăng trưởng. Chúng ta đã nâng cao được khá tốt nhận thức về bảo vệ môi trường và xanh hóa, tuy nhiều cần nhiều hơn nữa những hành động cụ thể cho đầu tư và tài chính xanh và xử lý ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh các hạn chế cố hữu, nền kinh tế cũng phải đối mặt với một số yếu tố tiềm ẩn có thể ảnh hưởng tiêu cực trong thời gian ngắn sắp tới.
Giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã có dùng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ khá uyển chuyển để phục hồi nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Thế nhưng việc tăng cung tiền thể hiện qua tăng trưởng tín dụng cao có thể khiến lạm phát tăng cao trong giai đoạn sắp tới.
Ngoài ra, yếu tố tỷ giá cũng là một thách thức lớn. Thị trường ngoại hối có những biến động mạnh vừa qua do yếu tố cả từ bên ngoài và bên trong. Dự trữ ngoại hối hiện vào khoảng 80-85 tỷ USD, thấp hơn mức dự trữ cần thiết là 3 tháng nhập khẩu, khiến dư địa can thiệp vào thị trường ngoại hối bị hạn chế.
Tóm lại, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc khắc phục các hạn chế cố hữu và quản lý các rủi ro mới sẽ là yếu tố then chốt để Việt Nam tiếp tục ổn định vĩ mô và duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững trong những năm tới.











