Quốc hội quy định các trường hợp thu hồi đất không bồi thường
Từ ngày 1/1/2026, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội và Luật Đất đai. Trong đó, pháp luật đã xác định rõ các trường hợp thu hồi đất không được bồi thường về đất.
Theo khoản 10 Điều 3 Nghị quyết 254/2025/QH15, các trường hợp không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được chia thành bốn nhóm chính.
Thứ nhất, các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 107 Luật Đất đai. Theo đó, người sử dụng đất không được bồi thường về đất nhưng có thể được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Nhóm này bao gồm: đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện bồi thường theo Điều 96 Luật Đất đai; đất được Nhà nước giao có thu tiền nhưng được miễn tiền sử dụng đất; đất thuê trả tiền thuê đất hằng năm; đất thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất (trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của luật).
Ngoài ra, các loại đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích do UBND cấp xã cho thuê; đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; cũng như diện tích đất nông nghiệp được giao vượt hạn mức theo quy định tại Điều 176 Luật Đất đai đều không thuộc diện được bồi thường về đất.

Ảnh minh họa
Thứ hai, đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý theo Điều 217 Luật Đất đai. Đây là nhóm đất chưa giao, chưa cho thuê hoặc đã được giao để quản lý. Cụ thể gồm: đất sử dụng vào mục đích công cộng; đất sông, ngòi, kênh, rạch, ao, hồ; đất nghĩa trang, cơ sở hỏa táng, lưu giữ tro cốt; đất có mặt nước chuyên dùng; đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất; đất do Nhà nước thu hồi và giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý.
Bên cạnh đó, nhóm này còn bao gồm đất do Nhà nước thu hồi và giao UBND cấp xã quản lý; đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn; đất chưa sử dụng; đất của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao khi chấm dứt nhu cầu sử dụng theo điều ước quốc tế và quy định pháp luật có liên quan.
Thứ ba, đất bị thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai theo Điều 81 và khoản 1, khoản 2 Điều 82 Luật Đất đai. Các trường hợp này bao gồm sử dụng đất không đúng mục đích đã được giao, cho thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất; hủy hoại đất; được giao hoặc cho thuê đất không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền.
Ngoài ra, đất không được sử dụng trong thời gian dài theo quy định (12 tháng đối với đất trồng cây hằng năm và nuôi trồng thủy sản; 18 tháng đối với đất trồng cây lâu năm; 24 tháng đối với đất trồng rừng) và đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn không đưa đất vào sử dụng đúng thời hạn cũng thuộc diện thu hồi không bồi thường.
Thứ tư, các trường hợp khác do Chính phủ quy định theo thẩm quyền.
Việc quy định rõ ràng các trường hợp thu hồi đất không bồi thường được đánh giá là bước quan trọng nhằm tăng tính minh bạch, thống nhất trong thực thi pháp luật đất đai, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng đất, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội.











