Sản xuất, buôn bán thuốc đông y giả có thể đối diện mức án nào?
Theo luật sư, việc xác định tội danh, khung hình phạt dành cho những đối tượng có hành vi sản xuất, buôn bán thuốc đông y giả phải căn cứ vào kết quả điều tra, chứng cứ thu thập được và bản chất pháp lý của vụ việc.
Triệt phá đường dây sản xuất, buôn bán thuốc đông y giả
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam 8 đối tượng để điều tra về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại Điều 174, Bộ luật Hình sự hiện hành. Những đối tượng này thường trú ở nhiều tỉnh thành khác nhau.
Trước đó, Công an phường Hà Đông phát hiện nhiều tài khoản Facebook với nội dung quảng cáo có thể chữa khỏi các bệnh về khối u.

Chân dung 8 đối tượng bị cơ quan công an khởi tố bắt tạm giam đề điều tra về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Ảnh: Công an thành phố Hà Nội
Qua xác minh, cơ quan công an xác định Nguyễn Văn Tú, sinh năm 1998, trú tại phường Phúc Yên, tỉnh Phú Thọ là người sử dụng các tài khoản Facebook nêu trên. Tú liên hệ, thỏa thuận với Dương Thị Quỳnh, sinh năm 1993, trú tại phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, chủ hộ kinh doanh Dương Thị Quỳnh, để bào chế các loại thân, lá cây không rõ nguồn gốc. Số nguyên liệu này được thái thành từng mảnh, miếng nhỏ hoặc bào chế thành dạng bột, cao.
Sau đó, Tú cùng các đối tượng liên quan thực hiện việc sản xuất, buôn bán các sản phẩm tự xưng là “thuốc nam gia truyền” chữa bệnh khối u.

Đối tượng Dương Thị Quỳnh và các sản phẩm được giới thiệu là "thuốc nam gia truyền" chữa bệnh khối u. Ảnh: Công an thành phố Hà Nội
Đến nay, Công an phường Hà Đông đã tiếp nhận đơn và làm việc với 26 người bị hại. Bước đầu, cơ quan chức năng xác định số tiền bị chiếm đoạt khoảng 244,5 triệu đồng. Đồng thời, cơ quan chức năng đang tiếp tục xác minh hơn 1.400 trường hợp mua các sản phẩm liên quan. Tổng số tiền giao dịch được xác định có thể lên tới hàng tỷ đồng.
Trách nhiệm pháp lý của các đối tượng
Liên quan đến vấn đề này, theo luật sư Phạm Ngọc Thanh, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Điều 174, Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về nguyên tắc, để xác định một người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh người đó đã sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm làm cho người khác tin là thật, từ đó giao tài sản và người thực hiện hành vi có mục đích chiếm đoạt tài sản.
Trong vụ việc trên, nếu kết quả điều tra chứng minh các đối tượng đã cố ý đưa ra thông tin sai sự thật về công dụng chữa bệnh của sản phẩm để tạo dựng niềm tin, khiến người mua giao tiền và sau đó chiếm đoạt thì hành vi có thể bị xử lý về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Chuyên gia pháp lý đánh giá, với số tiền bước đầu được xác định khoảng 244,5 triệu đồng, nếu được chứng minh đầy đủ là tài sản bị chiếm đoạt và thuộc hành vi phạm tội đang được xem xét thì các đối tượng có thể phải đối mặt với khung hình phạt từ 7-15 năm tù theo quy định tại khoản 3 Điều 174, Bộ luật Hình sự hiện hành.
Tuy nhiên, mức hình phạt cụ thể đối với từng đối tượng còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ hành vi, vai trò của từng người, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Luật sư Phạm Ngọc Thanh cho rằng, một vấn đề pháp lý khác cần được xem xét là trách nhiệm hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán sản phẩm giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh.
Điều 194, Bộ luật Hình sự quy định tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”. Đây là tội danh có tính chất nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội không chỉ xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà còn có thể trực tiếp đe dọa sức khỏe, tính mạng của người sử dụng.
Tuy nhiên, không nên đồng nhất mọi sản phẩm được người bán quảng cáo là “thuốc nam”, “thuốc gia truyền” với “hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh” theo Điều 194, Bộ luật Hình sự.
Trong vụ việc này, các sản phẩm được mô tả là những sản phẩm tự xưng “thuốc nam gia truyền” chữa bệnh khối u. Nguyên liệu được xác định bước đầu là các loại thân, lá cây không rõ nguồn gốc, sau đó được thái nhỏ, bào chế thành dạng bột hoặc cao.
Vì vậy, để xác định có đủ căn cứ xử lý về Điều 194, Bộ luật Hình sự hay không, cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ bản chất pháp lý của sản phẩm, nguồn gốc, thành phần, công dụng được công bố hoặc quảng cáo, tình trạng pháp lý của sản phẩm, phương thức sản xuất, mục đích của người thực hiện và các tài liệu, kết quả giám định có liên quan.
Nói cách khác, tên gọi do người bán tự đặt ra không phải là căn cứ duy nhất để xác định sản phẩm có phải là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh giả theo Điều 194, Bộ luật Hình sự hay không.
Nếu kết quả điều tra chứng minh đầy đủ các dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, người thực hiện có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh này. Nếu đồng thời có đầy đủ dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, trách nhiệm hình sự đối với từng hành vi phải được xem xét theo các quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự.
Theo chuyên gia pháp lý, ngoài trách nhiệm hình sự, người phạm tội còn có thể phải hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt, bồi thường thiệt hại cho người bị hại và chịu các biện pháp xử lý đối với tiền, tài sản liên quan đến hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật.
