Sản xuất hữu cơ tập trung: Hướng đi tất yếu cho nông nghiệp bền vững
Những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh từng bước hình thành các mô hình sản xuất hữu cơ, canh tác tự nhiên, sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP và an toàn thực phẩm, tạo nền tảng quan trọng cho việc phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp địa phương.
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã được chứng nhận trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung ở lĩnh vực trồng trọt. Lĩnh vực thủy sản và chăn nuôi chưa có mô hình sản xuất hữu cơ được chứng nhận theo các tiêu chuẩn hiện hành. Tuy vậy, việc xuất hiện ngày càng nhiều mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ trong các lĩnh vực này đang mở ra triển vọng phát triển vùng sản xuất hữu cơ tập trung trong thời gian tới.
Toàn tỉnh hiện có 619ha cây trồng được sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ; trong đó, diện tích đã được các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đạt khoảng 425ha, bao gồm: 227ha lúa, gần 100ha hồ tiêu, 19ha cây ăn quả, 5,6ha rau các loại, gần 53ha cây dược liệu và 20ha cà phê. Bên cạnh đó, còn có khoảng 201ha sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận.
Ngoài diện tích đã và đang được chứng nhận, trên địa bàn tỉnh còn có 906ha lúa được sản xuất theo hướng hữu cơ. Đây được xem là tiền đề quan trọng để tỉnh từng bước mở rộng diện tích lúa hữu cơ, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước.
Ông Trần Đình Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cho biết: “Việc phát triển sản xuất trồng trọt theo hướng hữu cơ không chỉ giúp nâng cao giá trị sản phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn góp phần cải thiện môi trường sinh thái, bảo vệ tài nguyên đất và nước. Đây là hướng đi phù hợp với điều kiện tự nhiên và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững của tỉnh trong giai đoạn hiện nay”.

Vườn dược liệu hữu cơ tại xã Cam Lộ được đầu tư chăm sóc theo quy trình an toàn, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững - Ảnh: H.C
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh chưa có tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã hay vùng sản xuất nào đăng ký hoặc được chứng nhận nuôi thủy sản hữu cơ. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều cơ sở và vùng nuôi đã triển khai các mô hình nuôi theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng thuốc và hóa chất, ưu tiên chế phẩm sinh học, thức ăn tự nhiên và các biện pháp cải tạo môi trường nuôi. Tiêu biểu có thể kể đến các mô hình nuôi lồng, bè trên hồ đập và hồ chứa lớn với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, như: Cá leo, cá trắm cỏ, cá chép, cá diêu hồng, cá trê.
Bên cạnh đó, mô hình nuôi cá bớp trong lồng nhựa HDPE, nuôi nhuyễn thể tại xã Phú Trạch, hay mô hình nuôi hàu Thái Bình Dương bằng giàn bè tại vùng cửa sông Gianh cũng đang mang lại hiệu quả tích cực. Các mô hình nuôi cá-lúa, nuôi xen ghép tôm-cua-cá, nuôi chuyên canh một số loài cá có giá trị kinh tế cao, như: Cá kình, cá ngạnh, cá mú trân châu, cá chim vây vàng được triển khai và nhân rộng tại nhiều vùng nuôi tôm thường xuyên bị dịch bệnh. Tỉnh cũng đã hỗ trợ xây dựng 3 mô hình nuôi thương phẩm gắn với liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, gồm: Nuôi tôm sú 2 giai đoạn, nuôi cá nâu thương phẩm và thử nghiệm nuôi thâm canh cá chim vây vàng theo hướng VietGAP.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số mô hình chăn nuôi theo hướng canh tác tự nhiên và chăn nuôi hữu cơ. Đối với các vật nuôi ăn cỏ, như: Trâu, bò, dê, hiện nay người dân vẫn chủ yếu chăn nuôi theo phương thức truyền thống. Trong đó, bò được xác định là vật nuôi chủ lực và được định hướng phát triển theo hướng trang trại thâm canh, hữu cơ.
Những năm qua, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh đã hỗ trợ 20 cơ sở chăn nuôi lợn theo hướng hữu cơ, với 1.170 con lợn, tổng kinh phí trên 2,7 tỉ đồng. Qua đó, nhằm khuyến khích người chăn nuôi từng bước tiếp cận phương thức sản xuất mới, tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và góp phần phát triển chăn nuôi bền vững, thân thiện với môi trường.
“Muốn nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững, cần sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Trong đó, vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp, cùng với cơ chế, chính sách đủ mạnh và công tác truyền thông, đào tạo, chuyển đổi số sẽ là yếu tố then chốt để Quảng Trị hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ tập trung trong thời gian tới”, ông Trần Đình Hiệp nhấn mạnh.
Nói về những khó khăn, thách thức cần tháo gỡ trong phát triển nông nghiệp hữu cơ tại địa phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Trần Đình Hiệp chia sẻ: “Trước hết là diện tích sản xuất còn manh mún, phân tán, chưa hình thành được các vùng sản xuất lớn theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa, gây khó khăn trong việc áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và kiểm soát chất lượng. Chi phí đầu vào cho sản xuất hữu cơ, đặc biệt là phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học và chi phí thuê đơn vị chứng nhận còn cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều hợp tác xã và hộ sản xuất nhỏ.
Việc chuyển đổi từ canh tác vô cơ truyền thống sang canh tác hữu cơ cũng đòi hỏi thời gian, trong khi nhiều hộ dân còn thiếu kinh nghiệm, nhất là trong công tác phòng trừ sâu bệnh. Ngoài ra, khâu tiêu thụ sản phẩm hữu cơ chưa hình thành được các chuỗi giá trị ổn định, phụ thuộc nhiều vào một số doanh nghiệp bao tiêu. Tác động của thời tiết cực đoan, hạn chế về công nghệ sau thu hoạch và chính sách khuyến khích chưa đủ mạnh cũng là những rào cản lớn”.
Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ tập trung, tỉnh cần ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư tương xứng cho nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt là cải tạo hệ thống thủy lợi tại các vùng trọng điểm sản xuất lúa hữu cơ nhằm kiểm soát tốt nguồn nước. Cùng với đó là các giải pháp đồng bộ về xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất hữu cơ; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ các hợp tác xã tham gia hội chợ, triển lãm; khuyến khích doanh nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn và đầu tư vào chế biến sâu sản phẩm hữu cơ.











