Sau Lam Kinh, du khách đi đâu để hiểu thêm về xứ Thanh?
Rời Lam Kinh, nếu muốn tìm hiểu thêm về lịch sử và văn hóa xứ Thanh, du khách có thể tiếp tục hành trình tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa.
Hơn 30.000 hiện vật đang được lưu giữ tại bảo tàng, trong đó hơn 2.000 hiện vật được lựa chọn trưng bày, có thể giúp người xem nhìn vùng đất này từ nhiều thời kỳ khác nhau, từ Văn hóa Đông Sơn đến các triều đại phong kiến.

Lễ hội Lam Kinh là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và triều Hậu Lê
Sau những ngày lễ hội, Lam Kinh trở lại với nhịp tham quan thường ngày. Những nghi lễ, chương trình nghệ thuật rồi cũng khép lại, nhưng câu chuyện về vùng đất từng gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn đó.
Với nhiều du khách, một chuyến về Lam Kinh có thể chỉ kéo dài trong buổi sáng hoặc một ngày: tham quan các công trình chính, tìm hiểu về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau đó lên xe đến điểm tiếp theo.
Nhưng nếu muốn biết Thanh Hóa còn những lớp lịch sử nào khác, du khách có thể đi tiếp đến một địa chỉ khác, đó là Bảo tàng tỉnh.
Khoảng cách giữa hai nơi không chỉ là quãng đường. Lam Kinh kể câu chuyện khá rõ về một giai đoạn lịch sử. Bảo tàng mở rộng câu chuyện ấy theo chiều dài của thời gian.
Từ một chiếc vạc, thanh kiếm đến câu chuyện xứ Thanh
Bảo tàng tỉnh hiện lưu giữ hơn 30.000 hiện vật, trong đó hơn 2.000 hiện vật được lựa chọn trưng bày. Các hiện vật thuộc nhiều thời kỳ, phản ánh những dấu tích lịch sử, văn hóa và đời sống của cư dân trên vùng đất Thanh Hóa.
Nếu Lam Kinh đưa người xem về thời Lê, thì tại bảo tàng, câu chuyện có thể bắt đầu sớm hơn nhiều.
Một trong những điểm đáng chú ý là 3 Bảo vật quốc gia đang được trưng bày: vạc đồng Cẩm Thủy, kiếm ngắn núi Nưa và trống đồng Cẩm Giang. Mỗi hiện vật có một câu chuyện riêng.
Vạc đồng Cẩm Thủy gây ấn tượng ngay từ kích thước. Hiện vật có đường kính miệng 134,4cm, đường kính đáy 115cm, cao 79,8cm; trọng lượng có thể lên tới khoảng 1 tấn. Vạc còn khá nguyên vẹn và được các nhà nghiên cứu đánh giá là chiếc vạc đồng lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Vạc đồng Cẩm Thủy, một trong những hiện vật đặc biệt đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa
Theo hồ sơ hiện vật, chiếc vạc được Ban Chỉ huy Quân sự TP. Thanh Hóa (cũ) sưu tầm tại khu vực ngã ba Đình Hương vào khoảng đầu những năm 1980. Đến ngày 1.8.2002, hiện vật được bàn giao cho Bảo tàng tỉnh.
Vạc đồng Cẩm Thủy có giá trị gắn với lịch sử thời Lê Trung Hưng, liên quan đến Phạm Ngô Cầu, quan khâm sai huyện Cẩm Thủy.
Chiếc vạc vốn không phải là một đồ vật bình thường trong xã hội phong kiến. Theo những tư liệu được giới thiệu về hiện vật, những chiếc vạc lớn thường gắn với quyền lực của vua, chúa. Vì vậy, việc một vị quan khâm sai huyện cho đúc một chiếc vạc đồng lớn là trường hợp đặc biệt.
Ngắm nhìn chiếc vạc, người xem có thể thấy rõ hơn trình độ đúc đồng và mỹ thuật trang trí trên đồ đồng của người xưa. Nhưng câu chuyện về nghề đúc đồng ở Thanh Hóa không bắt đầu từ thời Lê.
Dấu tích của nghề này còn được nhìn thấy rõ hơn qua những hiện vật thuộc Văn hóa Đông Sơn. Trong số đó có kiếm ngắn núi Nưa.
Thanh kiếm được sưu tầm dưới chân núi Nưa, khu vực Triệu Sơn, vào năm 1961. Đây là hiện vật độc bản thuộc thời kỳ Văn hóa Đông Sơn.
Kiếm dài 46,5cm, rộng 5cm, cán dài 18cm. Phần lưỡi có hình lá tre, hai rìa sắc, phía chắn tay tạo hình sừng trâu. Đáng chú ý nhất là phần cán: một khối tượng người phụ nữ được đúc liền với lưỡi kiếm.
Người phụ nữ đứng thẳng, hai tay khuỳnh chống nạnh. Trên đầu có hình dáng giống khăn vấn. Trang phục được thể hiện khá rõ với những đường nét trang trí đặc trưng.
Chính hình tượng này khiến thanh kiếm có thêm một câu chuyện chưa có câu trả lời cuối cùng.

Kiếm ngắn núi Nưa với chuôi kiếm tạo hình người, hiện vật độc bản thời kỳ Văn hóa Đông Sơn
Kiếm được phát hiện dưới chân núi Nưa, vùng đất gắn với căn cứ ban đầu của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu năm 248. Từ đó, các nhà nghiên cứu đặt giả thiết liệu hình tượng người phụ nữ trên cán kiếm có liên quan đến hình tượng Bà Triệu hay không.
Cũng có giả thiết cho rằng đây là loại vũ khí mang tính biểu tượng, thể hiện quyền lực và địa vị của chủ nhân hơn là một thanh kiếm được sử dụng trong chiến đấu thông thường.
Dù chưa thể khẳng định theo cách nào, những chi tiết trên thanh kiếm vẫn cho thấy nhiều điều về cư dân Đông Sơn: từ trang phục, kiểu tóc, kỹ thuật đúc đồng đến quan niệm về quyền lực và biểu tượng.
Nếu vạc đồng Cẩm Thủy gây chú ý bởi sự đồ sộ, kiếm ngắn núi Nưa buộc người xem phải nhìn kỹ từng chi tiết, thì trống đồng Cẩm Giang lại có một dấu hiệu rất riêng.
Chiếc trống được ông Bùi Đức Tậu, ở thôn Phú Lai, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy phát hiện năm 1992 trong khi làm vườn. Trống nằm ở độ sâu khoảng 1,5m. Đầu năm 1993, hiện vật được bàn giao cho Bảo tàng tỉnh.
Trống có đường kính miệng 73cm, đường kính chân 73cm, cao 41,9cm, được xác định có niên đại khoảng 2.000 năm.
Trên mặt trống có 4 khối tượng vịt. Các khối tượng này được đặt ở vị trí trang trọng và cùng quay theo hướng ngược chiều kim đồng hồ.
Đây cũng là điểm khiến trống đồng Cẩm Giang khác biệt. Theo hồ sơ bảo tàng, đến nay chưa có chiếc trống nào ở Việt Nam giống với hiện vật này.
Chiếc trống từng được đưa đi trưng bày tại nhiều nơi. Năm 2008, Bảo tàng Văn minh châu Á Singapore lựa chọn mẫu bản dập trống Cẩm Giang để trưng bày phục vụ một lễ hội văn hóa tại Singapore.
Ba Bảo vật quốc gia, ba câu chuyện. Một chiếc vạc gắn với quyền lực thời Lê Trung Hưng. Một thanh kiếm mang hình tượng người phụ nữ của Văn hóa Đông Sơn. Một chiếc trống có những khối tượng vịt rất khác thường. Những hiện vật ấy khiến lịch sử không còn chỉ nằm trong sách.
Để bảo tàng trở thành điểm dừng sau Lam Kinh
Bảo tàng tỉnh có thể trở thành điểm dừng tiếp theo trong hành trình của du khách sau khi tham quan Lam Kinh. Du khách không nhất thiết phải đến đây vì muốn “xem một bảo tàng”. Họ có thể đến vì muốn biết thêm về nơi mình vừa đi qua.
Sau khi tham quan Lam Kinh, một người có thể muốn biết trước thời Lê, vùng đất này đã có những gì. Khi nhìn thấy các hiện vật Đông Sơn, họ có thể tiếp tục đặt câu hỏi về đời sống của cư dân cách đây hàng nghìn năm.
Từ đó, câu chuyện về Thanh Hóa không còn dừng ở một triều đại. Đây là phần mà bảo tàng có thể bổ sung cho các khu di tích.
Lam Kinh có không gian di tích và những dấu tích gắn với triều Lê. Bảo tàng có hiện vật. Thành nhà Hồ lại kể một câu chuyện khác về triều Hồ và kỹ thuật xây dựng thành đá.

Trống đồng Cẩm Giang với 4 tượng vịt trên mặt trống, hiện vật độc bản của Văn hóa Đông Sơn
Nếu các điểm này được đặt trong một hành trình hợp lý, du khách sẽ có thêm lựa chọn thay vì tham quan xong một nơi rồi rời đi.
Thực tế, câu chuyện kết nối các điểm di sản không phải mới được đặt ra. Nhưng để biến thành một hành trình mà khách du lịch thực sự muốn đi, mỗi điểm cần có một lý do riêng để dừng lại.
Với Bảo tàng tỉnh, 3 Bảo vật quốc gia là một lý do khá rõ. Theo lãnh đạo Trung tâm Bảo tồn di sản, Bảo tàng và Thư viện Thanh Hóa, từ năm 2022, đơn vị đã triển khai ứng dụng tương tác thực tế ảo với các Bảo vật quốc gia. Qua đó, khách tham quan có thể tương tác với hiện vật và trải nghiệm không gian 3 chiều.
Công nghệ giúp cách tiếp cận hiện vật bớt khô cứng, nhất là với khách trẻ. Nhưng suy cho cùng, công nghệ chỉ là phương tiện.
Một chiếc vạc đồng lớn gần 1 tấn, một thanh kiếm có tượng người phụ nữ trên cán hay một chiếc trống đồng với 4 khối tượng vịt vẫn là những thứ có sức hút riêng khi người xem được đứng trực tiếp trước hiện vật.
Điều quan trọng là câu chuyện phía sau hiện vật phải được kể dễ hiểu. Một du khách không nhất thiết phải biết thuật ngữ khảo cổ học. Họ chỉ cần biết chiếc vạc này từ đâu mà có, vì sao nó lớn như vậy, ai cho đúc; thanh kiếm được tìm thấy ở đâu, tượng người phụ nữ trên cán có ý nghĩa gì; chiếc trống có gì khác những chiếc trống Đông Sơn khác...
Từ những câu hỏi rất đơn giản đó, lịch sử có thể trở nên gần hơn. Đó cũng là cách để Bảo tàng tỉnh có thể bước ra khỏi vai trò của một nơi lưu giữ hiện vật, trở thành một điểm dừng trong hành trình khám phá Thanh Hóa.
Sau Lam Kinh, du khách có thể về bảo tàng. Từ bảo tàng, hành trình có thể tiếp tục đến Thành nhà Hồ hoặc những điểm di sản khác.

