Sẽ tổ chức lại 33 chương trình khoa học công nghệ quốc gia
Trong năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, nhằm giảm trùng lặp, tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng điểm.
Tại họp báo thường kỳ tháng 10/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 4/11, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) thông tin cụ thể về Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035”.
Theo ông Tú, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đã đóng góp quan trọng vào việc phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Trong giai đoạn 2016 - 2025, cả nước triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ thuộc 42 chương trình, công bố 6.677 bài báo quốc tế trên hệ thống Web of Science (WoS) và Scopus, đồng thời đào tạo 1.579 tiến sĩ. Những kết quả này góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ của Việt Nam.
Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ một số hạn chế như nguồn nhân lực còn phân tán; số lượng chương trình và nhiệm vụ tương đối nhiều, trong khi một số nhiệm vụ có quy mô nhỏ, nội dung hoặc mục tiêu giao thoa. Việc kết nối kết quả nghiên cứu với phát triển công nghệ, hình thành sản phẩm, ứng dụng và thương mại hóa chưa hiệu quả. Công tác quản lý còn thiên về theo dõi quá trình thực hiện, trong khi hiệu quả và tác động thực tế của các chương trình chưa được đánh giá đầy đủ.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ phát biểu tại buổi họp báo thường kỳ tháng 10/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Hà Anh/Mekong ASEAN.
Từ thực tế này, lãnh đạo Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ cho rằng việc tái cấu trúc là yêu cầu cần thiết nhằm khắc phục những điểm nghẽn, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới. Định hướng xuyên suốt là chuyển từ quản lý theo nhiệm vụ sang quản lý theo mục tiêu, sản phẩm, hiệu quả và tác động thực tế.
Hệ thống chương trình sẽ được tổ chức thành 6 nhóm. Nhóm thứ nhất là phát triển tiềm lực, tập trung phát triển nguồn nhân lực, các tổ chức nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng khoa học công nghệ dùng chung.
Nhóm thứ hai là nghiên cứu cơ bản nhằm tạo ra tri thức mới, các luận cứ khoa học và nền tảng cho phát triển công nghệ.
Nhóm thứ ba là các chương trình trọng điểm quốc gia, tập trung giải quyết những bài toán lớn có tính liên ngành, tạo ra các sản phẩm và giải pháp phục vụ phát triển đất nước.
Nhóm thứ tư là đổi mới sáng tạo, thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Nhóm thứ năm là các chương trình quốc gia đặc biệt, tập trung vào nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Nhóm thứ sáu là chuyển đổi số quốc gia, phục vụ phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và đổi mới phương thức quản trị trên môi trường số.
Để hiện thực hóa định hướng này, trong năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, gồm 25 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và 8 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 – 2035” đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực vào năm 2030 và ít nhất 50 nhóm đạt chuẩn quốc tế vào năm 2035. Ảnh minh họa: Hà Anh/Mekong ASEAN.
Quá trình rà soát, tổ chức lại gồm 4 bước: Đánh giá sự cần thiết, kết quả thực hiện, hiệu quả và mức độ trùng lặp giữa các chương trình; xây dựng phương án tổ chức lại, xác định rõ mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra và phương án xử lý đối với từng chương trình; trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; tổ chức thực hiện và chuyển tiếp, bảo đảm xử lý phù hợp các nhiệm vụ, hợp đồng, kinh phí, tài sản và kết quả nghiên cứu đã hình thành.
Trên cơ sở kết quả rà soát, các chương trình có thể được tiếp tục triển khai, điều chỉnh, tích hợp, thay thế hoặc kết thúc. Việc tổ chức lại phải dựa trên đánh giá khách quan, khoa học, bảo đảm đúng thẩm quyền và không làm gián đoạn các nhiệm vụ đã được phê duyệt.
Thông qua quá trình này, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng tới khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, giảm trùng lặp, tập trung đầu tư cho những nhiệm vụ có quy mô, trọng tâm, trọng điểm và khả năng tạo ra kết quả thực chất.
Đo lường hiệu quả bằng sản phẩm và khả năng làm chủ công nghệ
Tại buổi họp báo, ông Hoàng Anh Tú chỉ ra một điểm nổi bật của Đề án là xác định các mục tiêu cụ thể, có thể đo lường, thay vì chỉ dừng ở những định hướng mang tính định tính.
Đến năm 2030, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện; tỷ lệ này dự kiến tăng lên 60% vào năm 2035.
Tỷ lệ kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế phấn đấu đạt 40% vào năm 2030 và 50% vào năm 2035. Đề án cũng đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực vào năm 2030 và ít nhất 50 nhóm đạt chuẩn quốc tế vào năm 2035.
Về phát triển sản phẩm, mục tiêu đến năm 2030 là hình thành ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm, sản phẩm chiến lược; đến năm 2035 có ít nhất 50 sản phẩm được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp. Số doanh nghiệp làm chủ công nghệ được đặt mục tiêu đạt ít nhất 20 vào năm 2030 và ít nhất 30 vào năm 2035.
Theo ông Tú, các chỉ tiêu này thể hiện sự thay đổi trong tư duy quản lý. Thành công của chương trình khoa học, công nghệ không chỉ được đo bằng số lượng công trình nghiên cứu mà còn thể hiện qua năng lực làm chủ công nghệ, số lượng và chất lượng sản phẩm được thương mại hóa, cùng sự tham gia thực chất của doanh nghiệp.
Phương thức đánh giá cũng được đổi mới theo 4 cấp độ. Ở cấp độ đầu vào, việc đánh giá tập trung vào kinh phí, nhân lực và hạ tầng nghiên cứu. Cấp độ đầu ra xem xét các công nghệ, sáng chế và sản phẩm được tạo ra. Cấp độ hiệu quả tập trung vào khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Cấp độ tác động đánh giá đóng góp của chương trình đối với năng suất, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, việc đánh giá sẽ từng bước chuyển từ chủ yếu dựa trên hoạt động và kết quả trực tiếp sang xem xét toàn diện hơn hiệu quả, tác động của đầu tư khoa học và công nghệ.
“Việc tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia không đơn thuần là sắp xếp lại hệ thống chương trình, mà còn là đổi mới phương thức tổ chức và quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. Qua đó, tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm và nâng cao đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đối với tăng trưởng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới,” ông Tú cho biết.
Về lộ trình, trong năm 2026, Bộ sẽ rà soát, xử lý các chương trình, kiện toàn cơ chế điều phối và xây dựng nền tảng số. Đến quý 1/2027, các công cụ đo lường kết quả và hiệu quả sẽ được hoàn thiện. Giai đoạn 2027 - 2030 tập trung triển khai các bài toán lớn, công nghệ lõi và tiến hành đánh giá giữa kỳ vào năm 2030. Giai đoạn 2031 - 2035 sẽ đánh giá tác động, điều chỉnh theo thẩm quyền và tổng kết vào năm 2035.

